Chương 1 LICH SỬ NGHIÊN CUU 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Đã có nhiều công trình nghiên cứu vẻ công tác phồng cháy, chữa cháy img được công bố và vận dung vào thực tiễn trên thế giới. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã để cập đến tất cả các lĩnh vực khác nhau trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng như: dự báo nguy cơ cháy rừng, các biện pháp phòng cháy rừng, các biện pháp chữa cháy rừng, vấn để an toàn lao động cho người và tài sản trong chữa cháy rừng, hệ thống chính sách liên quan đến công tác quản lý lửa rừng v. Tuy nhiên, các nghiên cứu này phẩn lớn còn mang tính chung chung, khái quát lớn, áp dung cho các dối tượng trên quy mo rộng. So với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ nặng né và phức tạp, chịu ảnh hưởng chỉ phối rất lớn của các yếu tố khí hậu thời tit, địa hình và tình hình lớp thảm thực vật v.
là những yếu tố rất dé thay đổi theo không gian và thời gian, thì việc vận đụng cụ thể các kết quả nghiên cứu không phải giống nhau ở moi nơi, mọi lúc ~ Về công tác dự báo nguy cơ cháy rừng: Đây là một trong số những biện pháp phòng cháy có nhiều nghiên cứu nhất hiện nay trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nói chung. Điển hình có các tác giả đại diện cho các nước như: E.B/Show của My (1914) đã nghiên cứu và xác định khả nang cháy rug thông qua độ ẩm của lớp thảm mục với một lý luận đơn giản là: thấny thực Vật trong rừng càng khô thì nguy cơ cháy rừng càng cao.P (1957) của Nga đã đi sâu tghi®7 cứu các yếu tố khí tượng thuỷ văn và các yếu tố khác ảnh hưởng đến cháy rừng, điển hình như công trình nghiên cứu của Nesterov về dự. báo nguy cơ cháy rừng đựa trên mối quan hệ giữa nguy cơ cháy rừng với các yếu tố khí tượng dé quan sát. Nghiên cứu này đã được nhiều nước vận dung như: Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Việt Nam v.
Wright (1929) đã nghiên cứu và cho xuất bản hệ thống bảng biểu đầu tiên để dự báo mức đội nguy hiểm của lửa rừng cho Canada. Hệ thống đồ đã được một số nước khác 4p dụng như: Tây Ban Nha, Méhico, Veneduela, Achentina, Chilé v. Ở “Thuy Điển, Angstrom đã nghiên cứu và đưa ra chỉ số cho việc dy báo cháy từng dựa vào 2 yếu tố khí hậu chính là nhiệt độ và độ ẩm không khí để tính mức độ nguy cơ cháy rừng. Arthur (1966, 1979) đã xây dựng hệ thống xác định nguy hiểm cháy rừng dựa trên số liệu thu thập qua nhiều lần đốt thử nghiệm các loại vật liệu cháy (VLC) trong những điều kiện thời tiết khác nhau và kết hợp kinh nghiệm thực tế.
Ở Trung Quốc, phần lớn dự báo cháy rừng. được bắt đầu vào thập ky 60, trong đổ Cổ dai điện điển hình là Ju Ende cùng một số nhà khoa học khác đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa hàm lượng nước của VLC với các yếu tố khí tượng (dẫn theo tài liệu [2)). Các biện pháp phòng cháy rừng khác: Một số tác giả ở một số nước như: Đức, Nga, Australia đã dé cập đến vấn để xây dựng các đường băng dai xanh phòng cháy, trên đó trồng các loài cây lá rộng; Ở Đức, Voigt (1922) đã dé nghị xây dựng bang cần lửa, trên đó tuỳ thuộc điều kiện đất đai trồng các loài cây như: đẻ, hoa mộc, hoặc keo gai. Ở Trung Quốc, hiện nay thường.
dùng các loài cay như voi thuốc, gidi, san hô, cọ, keo. để trồng bang cản lửa v.(dn theo tài liệu [2]): Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này phần lớn đi sâu và công tác phòng cháy 1a chính, Mot số tác giả nghiên cứu cả phòng chấy và chữa cháy rừng, song kết quà thu được cuối cùng và công bố vẫn chủ yếu là về lĩnh vực phòng cháy rừng. Các nghiên cứu vẻ chữa cháy rừng có thể điểm qua một số tác giả như sau: Năm 1993, Gromovis R. đã nghiên cứu và dé cập đến nhiều khía cạnh trong công tác chữa cháy rừng.
Các tác giả đã phân tích kỹ nội dung của chiến thuật và kỹ thuật chữa cháy rừng, phân chia giai đoạn của quá trình cháy và cuối cùng đã dé ra được các phương pháp dap tất lira rừng, nội dung chủ yếu cũng được chia ra theo hai nhóm biện pháp chính, .đó là biện pháp trực tiếp và biện pháp gián tiếp [15]. ‘Theo các tác nêu giả trên, biện pháp chữa cháy trực tiếp chit yếu được áp dụng cho những đám cháy mà nguồn VLC nằm sát mat đất. Đó là những biện pháp tác động trực tiếp vào đám cháy bằng cách phun nước, hat đất, dùng bàn dap để dập tắt ngọn lửa. Biện pháp này được sử dung để dap đón đầu ngọn lửa đối với những đám cháy nhỏ, hoặc sử dụng dập xung quanh mép đám cháy đối với đám cháy lớn và trung bình.
“Chữa cháy gián tiếp được hiểu là những biện pháp chữa chấy được thực hiện ở một khoảng cách nhất định so với đám cháy như các biện pháp: đốt chan trước, làm đường băng phía trước đám cháy v. Có thể sử dụng các dụng cụ khác nhau như: dung Cụ thủ công, may hạ cây, máy san ùi đất để thi công đường băng cân lửa. Ngoài ra, cuốn sách này còn nêu một số biện pháp chữa cháy bằng máy bơm nước, chữa cháy bằng máy bay v. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã giới thiệu khá chỉ tiết một số loại dung cụ chữa chấy rừng và diéu kiện áp dụng cho từng loại dụng cy.
“Trong đó phân chia ra dụng cụ (hủ công, dụng cụ cơ giới, các loại máy bom “chữa chấy rừng. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở Việt Nam đã thu hút được sự quan thn của một số nhà khoa học. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu được công bố và sử dụng rộng rãi trong thực tế, Có thể nêu. những tác giả di dấu trong nghiên cứu vẻ công tác phòng cháy, chữa cháy từng ở Việt Nam như sau: ~ Xác định mùa cháy rừng và xây dựng phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam do Phạm Ngọc Hưng dé xuất từ năm 1984 [8].
- Trên cơ sở phương pháp dự báo đã được Pham Ngọc Hưng xây dựng, “Trường Đại học Lâm nghiệp cộng tác với Cục Kiểm lâm xây dựng phần mềm dự báo nguy cơ cháy rừng và thông báo rộng khắp trên truyền hình từ năm 2002. - Phan Thanh Ngọ (1996) đã nghiên cứu và để xuất một số biện pháp phòng và chữa cháy rừng thong ba lá (Pinus Äesiya Royle ex Gordon), rừng trầm (Melaleuca cajuputi powel). Tác giả đã dé ra biện pháp phòng cháy hiệu quả đối với rừng thông là đốt trước VLC có điều khiển, Đặc biệt, tác giả đã để ra một số cải tiến dung cụ chữa cháy rừng như: cải tiến bình bơm nước deo t, cuốc cào vai, đòn đập lửa, cào cha v.[1]]: ‘Song cũng như tình hình chung trên thế giới, nghiên cứu ở Việt Nam chủ yeu dang đi sâu vào công tác phòng cháy rừng là chính, nghiên cứu về chữa chy, đặc biệt nghiên cứu cho những đối tượng cụ thể để có thé van dụng. trong thực tiễn chữa cháy rừng ở ta còn rất hạn chế, C6 thể nêu một số công trình tiêu biểu của các tắc giả như: ~ Năm 2001, Phạm Ngọc Hưng đã để ra một số biện pháp chữa cháy rừng cho các đối tượng rừng theo ving sinh thái ở Việt Nam, chẳng hạn biện pháp chữa cháy đối với rừng trầm có điện tích rộng lớn.
Theo tác giả, có thể sit dung biện pháp tùng niấy bay thả xuống những bình có chứa các chất CaCl, hoặc CaCl,, khi thả xuống bình sẽ vỡ tung ra và CCI, phân giải nhanh, hút nhiệt làm cho nhiệt độ đám cháy giảm xuống. Hoặc có thể chữa cháy bằng các biện pháp như: chia cất dám cháy bằng các con rạch nhỏ kết hợp với việc dang nước chữa cbáy ngay tại chỗ để chống cháy lan, phương pháp này hiện e phổ biến ở vùng rừng trim [10] áp dụng nay dang dtig Khi we độ chấy cham, (tốc độ đám cháy nhỏ hơn 3m/phúU, ngọn lửa có xu hướng lún ra xtng quanh, chiéu cao ngọn lửa thấp, diện tích đám cháy còn nhỏ, đội hình nên bố trí từng tổ 8-10 người sử dụng dụng cụ thô sơ như cành. cây, bao tải ướt đập thẳng vào đám cháy, Ngoài ra có thể sử dụng các dụng cụ như cud, xéng, cào, dao phát v. để tạo đường băng theo kiểu bing trắng ngăn lửa ở vị tri xung quanh đám cháy với chiều rộng khoảng 2 ~ 3m.
Khi tốc độ đám cháy nhanh (tốc độ đám cháy lớn hơn 3m/phit), ngọn lừa chủ yếu lan vẻ phía trước theo chiéu gió. Một số lực lượng dùng các dụng cụ. thô sơ đập trực tiếp vào hai bèn gần phía sau dam cháy, đa số lực lượng còn lại tiến hành làm bang trắng ngăn lửa ở vi trí hai bên sườn của dám cháy nhằm. thu hẹp đân hướng lan của ngọn lita và tiến tới dap tắt đám cháy.
`Ngoài ra, tác giả cũng đã giới thiệu một số biện pháp chữa cháy khác như. dap lửa bằng cát, bằng nước, bằng các loại hoá chất nhữ: bọt khí hoá học (bọt hi CO,), chất thành phần “3,5”; sunphatamon v. - Kinh nghiệm phát hiện sớm, đập tắt nhanh các đám cháy ở các Chi cục Kiểm lâm Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình: theo kinh nghiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của các địa phương này, cần tổ chức. theo di chặt chế tình hình cháy rừng, và điều cốt yếu là phải phát hiện sớm đám cháy, tổ chức dap lửa khi đám cháy mới xuất hiện, quy mô đám cháy còn nhỏ, tốc độ lan trần của đám cháy thấp.
Lúc này việc sử dụng các biện pháp thủ công với các dụng cụ thô sơ được coi là có hiệu quả nhất. Còn khi đám cháy đã lan ra trên quy mô lớn, việc huy động và tổ chức chữa cháy rừng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều, Một số nghiên cứu cải tiến dụng cụ, phương pháp chữa cháy rừng ở các, địa phương cũng đã phẩn nào giúp cho công tác chữa cháy rừng thu được những kết quả ban đầu, đặc biệt khắc phục tình trạng thiếu dung cụ, phương tiện chữa cháy rừng hiện nay ở các địa phương, chủ rừng. Nguyễn Trường Hội (2005) đã nghiên cứu biện pháp nén VLC phía trước. đám cháy qhằm lầm giim chiểu cao và tốc độ lan tràn của đám cháy, giúp cho việc chữa cháy Đằng cic dụng cụ thủ công dễ ding hơn.