Chương 1 LƯỢC SỬ NGHIÊN COU 1. Trên thế giới.1-1- Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp. Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp (Quy hoạch huyện nông nghiệp) tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin vẻ phân bổ và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng. (Cac Mác va Ang Ghen đã chỉ ra “Mức độ Phá(tưiễn lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở chổ sự phân công lao động của dân tộc 46 được phát triển đến mức nào”.
Lê Nin chỉ ra “Sy nghiên cứu tổng hop tat cả các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trong để phân bổ lực lượng sản xuất”, Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm dạc trưng cho sự phân bố lực lượng. sản xuất ở một ving trong quá kilứ và hiện tại để xác định khả nang tiém tàng. và tương lai phát triển vùng đó. Dựa trên cơ sở học thuyết của Mác và Ang Ghen, V.Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể vé fe hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa.
Sự phúo be lực lượng sản xuất được xác định theo nguyên tic - Phân bổ lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sin xuất mở rộng. - Kết hợp tốt lợi ích của Nhà nước và nhu cầu phát triển kinh tế của từng, tinh và từng huyện. - Đưa các xí nghiệp công nghiệp đến gần nguồn nguyên liệu để hạn chế chỉ phí vận chuyển. - Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế quốc dan ở từng vùng, từng huyện nhằm nang cao năng xuất lao động và sử dung hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ của các vùng Hành chính - Nông nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu vẻ phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dan trong vùng. Quy hoạch vùng nông ng! là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá tương. lai của Nhà nước một cách chỉ tiết sự phát triển và phần bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hoá một cách hợp lý; Là biện pháp thiết kế và đưa Vào nể nếp việc sử dụng đất dai trên từng khu vực cụ thể của vùng, là biện phấp xác định sự phân bố đúng đắn các cơ quan y tế. và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho nhân dân, là biện pháp xây dựng các tiền để tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tự nhiên, các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc độ nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dan trong vùng lao động nông nghiệp đó.
‘Ving hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp. Đồng thời vùng hành chính cũng là các Vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế và tổ chức lãnh thổ thuài! lợi cho việc phát triển có kết quả tất cả các ngành kinh tế quốc dân, như vậy trong quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vàng hành nông nghiep làm dõi tượng quy hoạch. Lập kế hoạch sử dung tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đổ quy hoạch vùng là một trong những nội dung của quy hoạch vùng.2- Quy hoạch vùng lãnh thổ của một số nước trên thé giới: 1.1-Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari nhằm mục đích sau: ~ Sử dụng một cách hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước. Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mỡ rộng.
- Xây dựng đồng bộ moi trường sống. (1) Lãnh thổ moi trường thiên nhiên phải bảo vệ. (2) Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động vào đây của con người rất. (3) Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát.
(4) Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp khôfg có mạng lưới nông thon nhưng có sự tác động của con người. (5) Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp cổ ưạng lưới nông thôn và có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi clio sân xuất nông nghiệp. (6) Lãnh thổlà môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người. ‘Tren cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phượng.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ bao gồm các vùng lớn có ranh giới bằng một tỉnh hoặc lớn hơn một tỉnh Nhiệm vụ khảo sát quy hoạch lãnh thổ vùng, trong đó có quy hoạch vùng. nông nghiệp, là sự bố trí đúng din và hợp lý các hoạt động khác nhau trên lãnh thổ vùng, sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên, liên hiệp với cốc m0! 'rường sống, hoàn thiện mạng lưới nông thôn. lân hổ liên hiệp nông công nghiệp và liên hiệp nông công nghiệp là giải quyết các vấn để sau: ~ Cụ thể hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp. = Phối hợp hợp lý sản xuất nông nghiệp va công nghiệp với mục đích liên kết dọc, ~ Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ I ich công cộng và sản xuất - Tổ chức đóng din mang lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hop trong phạm vi hệ thống nông thôn.
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điển kiện tốt nhất cho nhân dân lao. động đủ an, ở, nghỉ ngơi.2- Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp, Theo quan điểm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng M. Pierre Thénevin), một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miễn Tay Nam nước. công hoà Cote đỲ ivoire, “Trong mô hình quy hoạch vùng này, người ta đã phiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá tri tăng thêm xã hội với các ring buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài.
Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc: (1) Các hoạt động sản xuất: - Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trot gia đình và trồng, trọt công nghiệp với je mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (ruyền thống). - Hoạt động khai thác rừng. = Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dich vụ, thương mại. (2) Nhân lực theo các daiig thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp.
(3) Cân đối xuất nh ip, tit chỉ và các cân đối khác. Vào rang buộc về diện tích đất, về nhân lực, vẻ liêu thụ lương thực. “Tóm lại: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Cong tác quy hoạch phát triển vùng được ch ý từ những năm 1970. Về hệ thống phân vị, quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương.
‘Ving (Region) được coi như là một 4 miễn (Subdivision) của đất nước. Đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,. Đồng thời, vì lý do quản lý hay chính ti, đất nước được chia thành các miền như đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử. Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của cđất nước.
Thông thường ving nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất. Su phân chia các vùng theo mục dich của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ, Quy hoạch phân chia vùng tiến hành ở cấp 8 miền được xây dựng theo 2 cách: 'Thứ nhất: Sự bổ sung kế hoạch của Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia "Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch vùng dong góp vào Việc xây dựng kế hoạch quốc gia. Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị #Ít,dan trọng vẻ kinh tế xã hội, chính trị ở Thái Lan và tập trung xây dựng ở hài vũ : Trung tâm và Đông Bắc.
Trong 30 năm (1961 - 1988 đến 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp tir 80% giảm xuống 66,6%, các dự án tập trung vào mấy vấn dé quan trong: Nude, đất dai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường.3- Quy hoạch lâm nghiệp. Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liên với sự phát triển kinh. tế tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên khối lượng gỗ ngày càng tăng.
Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cản phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh vẻ lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy. Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc " Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem tfẾ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỹ khai thác và tiến hành khoanh khu chat luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tie, Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chổi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau cách mạng công nghiệp, Vào thế kỷ'19 phương thức kinh doanh rừng chéi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài. Và phương thức “khoanh khu chat luân chuyển” nhường chổ. cho phương thức “Chia đều” của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lof đụng và trên cơ sở đó, khống chế lượng chặt hang năm.