Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển của xã hội thì nền kinh tế của nước ta cũng thay đổi từng ngày, từng giờ. Sự thay đổi đó diễn ra đồng loạt trên tất cả các ngành nghề khác nhau và ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao gây tác động tới một số ngành nghề, trong đó ngành lâm nghiệp cũng chịu tác động không nhỏ. Năm 1943,Việt Nam có 14,0 triệu ha rừng, độ che phủ 43,0% đến năm 1990 diện tích rừng còn 8,4 triệu ha với độ che phủ là 27,0%.
Đến năm 2008 diện tích rừng nước ta là 13,1 triệu ha có độ che phủ là 40,0% [12]. Như vậy so với những năm đầu của thập niên 90 thì diện tích rừng có tăng lên nhưng chất lượng rừng đã và đang suy giảm mạnh mẽ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự can thiệp của con người như: du canh, du cư, phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy, trồng cây xuất khẩu, mở rộng đô thị, khai thác mỏ, nuôi trồng thủy sản, xây dựng các nhà máy thủy điện. Hàng năm số vụ vi phạm lâm luật vẫn gia tăng với mức độ ngày càng tinh vi hơn.
Hơn nữa, cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra, sâu bệnh tàn phá nặng nề gây ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất chất lượng của rừng. Việc sử dụng rừng và đất rừng không đúng mục đích, không theo quy hoạch, hiện tượng lấn chiếm mua bán, chuyển nhượng trái phép đất rừng còn xảy ra phổ biến. Những tồn tại và bất cập trên làm cho công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Giá trị đích thực của rừng chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả.
Do vậy để sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng một cách bền vững và lâu dài thì việc xây dựng phương án sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý. Đứng trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước đã đưa ra các mục tiêu cho ngành lâm nghiệp là thiết lập, quy hoach, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42,6% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020 [3]. 2 Đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào phát triển lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng. Hơn nữa lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiều lĩnh vực hoạt động.
Muốn kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp và sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì nhất thiết phải coi trọng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sản xuất lâm nghiệp. Việc nghiên cứu, quy hoạch phát triển lâm nghiệp của các đơn vị hành chính nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác từ rừng là việc làm hết sức cần thiết. [7] Để có những cơ sở, luận cứ góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp trên địa bàn xã cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm quản lý bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quy hoạch lâm nghiệp tại xã Lục Sơn- huyện Lục Nam- tỉnh Bắc Giang”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục tiêu của đề tài.
- Đánh giá được thực trạng QHSD đất Lâm nghiệp hiện nay tại địa bàn xã Lục Sơn - Đề xuất giải pháp quy hoạch lâm nghiệp nhằm nâng cao công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn xã Lục Sơn- huyện Lục Nam- tỉnh Bắc Giang.2 Yêu cầu của đề tài. 3 - Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng quy hoạch sử dụng đất và sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu. - Việc phân tích, xử lý số liệu phải trên cơ sở khoa học, có định tính, định lượng bằng các phương pháp thích hợp. - Đánh giá đúng thực trạng, những đề xuất kiến nghị trên cơ sở tuân thủ quy định của Luật Đất đai và Luật Bảo về và phát triển rừng.
- Đề xuất phương án quy hoạch thiết thực, phù hợp với đặc điểm của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất và sản xuất lâm nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Việc thực hiện nghiên cứu đề tài là cơ hội tốt cho sinh viên làm quen đần với việc nghiên cứu khoa học, biết gắn kết ,vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế. Qúa trình nghiên cứu cũng giúp sinh viên có điều kiện khẳng định mình sau 4 năm học tại trường và qua đó tạo điều kiện cho sinh viên được học hỏi những kiến thức kỹ năng thực tiễn từ các cán bộ địa phương, giúp nâng cao khả năng làm việc sau nay.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài sẽ là tài liệu để địa phương có thể nhìn nhận đánh giá được quá trình quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian nhất định. Các kết quả đánh giá phân tích của đề tài có thể làm cơ sở cho các cán bộ có liên quan tại xã Lục Sơn tham khảo để có các những ý kiến chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, chiến lược hoạt động trong công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương trong những năm tiếp theo để có thể duy trì nguồn tài nguyên rừng cho tương lai.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Vấn đề nghiên cứu trên thế giới 2. Quy hoạch vùng ở Pháp Theo quan điểm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng M.Pierre Thénevin) [27] một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công miền Tây Nam nước cộng hòa Coote d’ivoire. Trong mô hình quy hoạch vùng này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc: a.
Các hoạt động sản xuất - Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, tham canh trung bình và cổ điển. - Hoạt động khai thác rừng - Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, dịch vụ, thương mại… b. Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp. Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực.
Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hóa trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài [27]. Quy hoạch vùng ở Thái Lan. 5 Công tác quy hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970. Về hệ thống phân vị, quy hoạch tiến hành theo 3 cấp: Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương.
Vùng (region) được coi như một á miền (subdivision) của đất nước. Đó là điều kiện cần thiết để phân chia quốc gia thành á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình… đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: Đơn vị hành chính, đơn vị bầu cử. Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất nước. Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn diện tích của một đơn vị hành chính lớn nhất.
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo hai cách: - Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia. - Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia. Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan, tập trung xây dựng ở hai vùng là vùng trung tâm và vùng Đông Bắc.
Trong 30 năm (1961 - 1988) đến (1992 - 1996) tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống còn 66,6%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật nông nghiệp thị trường. Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác- LêNin. Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bổ và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra rằng: “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn ở chỗ sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức nào”.
Lê Nin chỉ ra rằng: “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bổ lực lượng sản xuất”. Vì 6 vậy nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bổ lực lượng sản xuất ở một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của vùng đó. Dựa trên cơ sở học thuyết Mác và Ăng Ghen, V.