Chương 1. Cơ sở lý luận về an sinh xã hội Chương 2. Thực trạng công tác an sinh xã hội tại Quảng Nam thời gian qua Chương 3. Các giải pháp hoàn thiện công tác an sinh xã hội tại tỉnh Quảng Nam thời gian đến.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Do yêu cầu phát triển của các quốc gia, ASXH đã đƣợc nhiều nhà kinh tế học, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học ở các nƣớc trên thế giới quan tâm nghiên cứu.Vấn đề ASXH đã đƣợc xuất bản thành nhiều giáo trình, nhiều sách chuyên khảo, nhiều bài báo công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Và đồng thời ở nhiều nƣớc trên thế giới đã xây dựng những tổ chức nhằm thực hiện chính sách ASXH. Tuy nhiên, cho đến nay hoạt động về ASXH có sự đa dạng với nhiều mô hình, chƣơng trình và nguyên tắc khác nhau, phƣơng thức và góc độ tiếp cận về ASXH vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ “An sinh xã hội” đã xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn.
Sau năm 1975, thuật ngữ này đƣợc dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó đƣợc dùng khá rộng rãi hơn, có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề ASXH, trong đó trực tiếp là đề tài cấp nhà nƣớc mang mã số KX 04.05: “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, do viện Khoa học lao động và các 4 vấn đề xã hội, thuộc Bộ Lao động - Thƣơng binh & xã hội, cơ quan chủ trì đề tài. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đề cập đến một cách khá hệ thống vấn đề bảo đảm xã hội nhƣ: Đã làm rõ khái niệm về bảo đảm xã hội; mối quan hệ giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí, vai trò của bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trƣờng, khẳng định bảo đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa là động lực cho phát triển kinh tế xã hội. Đề tài đã nghiên cứu về các bộ phận cấu thành quan trọng của ASXH là Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) Trợ giúp xã hội (TGXH), ƣu đãi xã hội (ƢĐXH); đã đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển trong tƣơng lai của hệ thống bảo đảm xã hội ở nƣớc ta. Trong những năm gần đây, đã có thêm rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến chính sách ASXH.
Có thể nêu lên một số tác giả và công trình nghiên cứu liên quan nhƣ sau: - GS.TS Mai Ngọc Cƣờng (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách cung cấp cho ngƣời đọc cái nhìn tổng quan nhất về hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian qua, với những cấu thành chủ yếu nhất là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ƣu đãi xã hội. TS Vũ Văn Phúc (2012) “An sinh xã hội ở Việt Nam hướng đến 2020”, Nxb CTQG , Hà Nội. Nội dung bài viết đã khái quát cơ sở lý luận và các lĩnh vực nằm trong hệ thống an sinh của nƣớc ta hiện nay, đồng thời cũng nêu lên các giải pháp trong thời gian tới.
Nội dung bài viết mang tính khái quát và mang tầm vĩ mô, chƣa đề cập đến vấn đề an sinh tại từng địa phƣơng.TS Phạm Xuân Nam (2012) “Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia, ASXH ở nước ta - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Ngoài các vấn đề về ASXH nói trên, tác giả khẳng định ASXH phải đáp ứng 3 chức năng cơ bản là phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro. TS Mạc Văn Tiến (2012) - Viện trƣởng Viện khoa học dạy nghề - “Đào tạo nghề với việc đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam” Nguồn Website Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội. Tác giả đã đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc đào tạo nghề nâng cao nguồn nhân lực, tăng thu nhập để đảm bảo an sinh xã hội quốc gia.
Trên cơ sở đó nêu bật những thành tựu và vai trò của việc đào tạo nghề. Ở một khía cạnh nào đó tác giả bài viết chƣa quan tâm đến các nhân tố ảnh hƣởng của việc đào tạo nghề, các giải pháp đề ra còn mang tính chung chung, đây chỉ là một khía cạnh nhỏ trong chính sách an sinh. - Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2008) “Giải pháp tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo ở tỉnh Thái Nguyên” đã phần nào khái quát lên đƣợc vấn đề an sinh cho ngƣời nghèo từ đó để đƣa ra các mục tiêu, giải pháp nhằm giảm thiểu và mở ra cơ hội cho những ngƣời nghèo của tỉnh Thái Nguyên. Tuy vậy, đề tài cũng chỉ mới đề cập đến một khía cạnh của đời sống xã hội đó là ngƣời nghèo, chƣa đề cập đến các nhóm dân cƣ khác khi gặp khó khăn cần đƣợc trợ giúp.
Ngoài ra còn nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: Nguyễn Hữu Dũng (2010), Hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển, tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế và kinh doanh số 26;Nguyễn Thị Lan Hƣơng (2009) Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Tạp chí Lao động và xã hội, số 19; Nguyễn Ngọc Dũng (2012), “Đẩy mạnh hoạt động bảo trợ xã hội ở tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng. Các nghiên cứu trên tuy đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH nói chung ở nƣớc ta những năm qua. Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào riêng biệt bàn về nội dung hoàn thiện ASXH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1.
KHÁI QUÁT VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm an sinh xã hội Trong nhiều năm gần đây, có khá nhiều định nghĩa về an sinh xã hội rất đa dạng, nhấn mạnh vào từng trụ cột hoặc đối tƣợng thụ hƣởng khác nhau. Trong hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng, an sinh xã hội đƣợc hiểu là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con ngƣời đƣợc sống trong hòa bình, đƣợc tự do làm ăn, cƣ trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; đƣợc bảo vệ và bình đẳng trƣớc pháp luật; đƣợc học tập, đƣợc có việc làm, có nhà ở; đƣợc đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị ốm đau, thai sản, rủi ro, tai nạn, tuổi già. Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”.
Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tƣợng ở khu vực kinh tế không chính thức. Công ƣớc 102 của ILO nêu rằng: an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập. Nhƣ vậy ILO quan niệm đối tƣợng của an sinh xã hội là nhóm ngƣời có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu, xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và 7 kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”.
WB nhấn mạnh đến các biện pháp công cộng để hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực cho hộ gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thƣơng bao gồm việc nhà nƣớc cung cấp và khuyến khích phát triển các dịch vụ công nhƣ: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp xã hội (TCXH) và những biện pháp khác có tính chất tƣơng tự. Trong đóvai trò BHXH là quan trọng nhất. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: “ASXH là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính dễ bị tổn thƣơng của con ngƣời nếu không có an sinh xã hội.
Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) thì lại xem ASXH là thành tố của hệ thống chính sách xã hội liên quan đến sự đảm bảo an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già, phòng chống tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN); trợ giúp xã hội. Nhƣ vậy, ASXH đƣợc xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới và tùy vào nhận định của mỗi học giả. Tuy nhiên, những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: Bảo hiểm xã hội (bảo hiểm hƣu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc…), cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do ngƣời sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến ASXH.
Ở Việt Nam, quan niệm ASXH cũng đã dành đƣợc nhiều sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này. Song theo nhiều ý kiến của học giả và ý kiến tác giả thì quan điểm của TS.