Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Quy hoạch lâm nghiệp có quan hệ mật thiết với quy hoạch cảnh quan và quy hoạch vùng lãnh thổ. Có thể nói quy hoạch quy hoạch cảnh quan và quy hoạch vùng lãnh thổ là tiền quy hoạch của quy hoạch lâm nghiệp, đặt ra các định hướng phát triển cho quy hoạch lâm nghiệp. Trên thế giới. Quy hoạch cảnh quan - Khái niệm về cảnh quan: Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất đó.
Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải theo 3 cách: + Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh”. Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh) + Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu. Khái niệm cảnh quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa. + Cảnh quan sinh thái học.
Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian. - Quy hoạch cảnh quan là một hướng nghiên cứu trong khoa học kiến trúc cảnh quan, lý luận và thực tiễn đã có từ khá lâu, nhưng danh từ này thực sự trở thành thuật ngữ khoa học và được nhiều người công nhận thì mới bắt đầu những năm 70 của thế kỷ 20 (Sedon, 1986). Trong cuốn sách được công bố “land use and landscape planning” (Dereh Loviejoy, 1973), quy hoạch cảnh quan là sự sắp xếp mục đích sử dụng thích hợp nhất cho một nơi nào đó có quy mô tương đối lớn. Có nhiều cách hiểu về quy hoạch cảnh quan, nhưng có lẽ điều mà được nhiều người thừa nhận, thì quy hoạch cảnh quan là quá trình điều tiết mối quan hệ hài hòa giữa 4 con người và tự nhiên trên một phạm vi vĩ mô, dựa trên cơ sở nhận thức về tự nhiên và quá trình nhân văn (Stiner and Osterman, 1988; Sedon, 1986; Langevelde, 1994).
Mục đích chung nhất của quy hoạch cảnh quan là thông qua quy hoạch sử dụng đất, bảo tồn và lợi dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững. Trên quan điểm này, thì cảnh quan chính là một hệ sinh thái, do đó cảnh quan được quy hoạch muốn đạt được tính bền vững, phải dựa trên những nhận thức và lý luận của sinh thái học (Sedon, 1986; Leita and Ahern, 2002). Quy hoạch vùng lãnh thổ 1. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan Công tác qui hoạch phát triển vùng được chú ý từ những năm 1970.
Về hệ thống phân vị, qui hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương. - Vùng (Region) được coi như là một á miền (Subdivision) của đất nước đó là điều cần thiết để phân chia Quốc gia thành á miền theo các phương diện khác nhau như: phân bố dân cư, khí hậu, địa hình,. đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử. - Qui mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước và diện tích của đất nước.
Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất. Sự phân bố các vùng theo mục đích của qui hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ. - Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2 cách: Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch Quốc gia. Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng Nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập 5 trung xây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc. Trong 30 năm (1961 - 1988 và 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6 %, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari - Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ: Là sử dụng lãnh thổ một cách hiệu quả nhất, bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng và xây dựng đồng bộ môi trường sống lãnh thổ của đất nước.
- Phân vùng lãnh thổ: + Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ. + Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít. + Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát. + Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. + Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người. - Nội dung của quy hoạch: Quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể thiện quy hoạch chi tiết các liên hiệp nông, công nghiệp và giải quyết các vấn đề sau: + Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp. + Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc.
+ Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất. + Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn. + Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động ăn, ở, nghỉ ngơi. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp 6 Ở Pháp đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và cả nước ngoài.
Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc như sau: - Các hoạt động sản xuất: + Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống). + Hoạt động khai thác rừng. + Hoạt động đô thị: chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thương mại. - Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp: - Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực.
Quy hoạch lâm nghiệp Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng.
Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy. Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích. Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn. Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài.
Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia 7 đều” của Hartig. Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H. Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”.
Quy hoạch cảnh quan sinh thái Quy hoạch cảnh quan là một qúa trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai cho một vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu đến thế giới sinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong Cảnh quan đó.