Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn đầu thế kỷ XXI, công tác chăm sóc sức khỏe và nâng cao thể lực cho trẻ em luôn là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu trong chính sách y tế công cộng tại Việt Nam. Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2004, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 26,6% và thể thấp còi là 30,7%. Tại tỉnh Thái Bình, một địa bàn thuần nông thuộc đồng bằng sông Hồng với dân số hơn 1,8 triệu người và mật độ dân số gần 1.200 người/km², tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 34,8% năm 1999 xuống còn 24,3% vào năm 2005. Mặc dù đạt nhiều tiến bộ, số liệu báo cáo của ngành giáo dục cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm trẻ mẫu giáo từ 25 đến 60 tháng tuổi tại các trường mầm non nông thôn vẫn ở mức rất cao, chiếm gần 33%, cao gấp 1,3 lần so với mức bình quân chung của trẻ dưới 5 tuổi toàn tỉnh.

Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn thạc sĩ y tế công cộng của tác giả Phạm Gia Lai, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Công Khẩn tại Trường Đại học Y tế Công cộng, đã thực hiện đề tài đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan ở trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi tại 4 trường mầm non thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 9 năm 2006 tại 4 xã đại diện gồm Đông Đô, Tây Đô, Kim Trung và Hồng Lĩnh. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực địa, phục vụ mục tiêu của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 21/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng đến việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại Thái Bình xuống dưới 20% vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình phân tích nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), phân loại căn nguyên thành ba tầng nấc tương tác: nguyên nhân trực tiếp (chế độ ăn thiếu hụt và bệnh tật), nguyên nhân tiềm tàng (thiếu an ninh lương thực hộ gia đình, chăm sóc bà mẹ - trẻ em chưa tốt, dịch vụ y tế và vệ sinh môi trường yếu kém) và nguyên nhân cơ bản (điều kiện kinh tế, văn hóa và cơ cấu tổ chức xã hội). Đồng thời, đề tài áp dụng chuẩn đánh giá nhân trắc học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết hợp với quần thể tham chiếu của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NCHS).

Các chỉ số nghiên cứu nòng cốt bao gồm: thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi - WAZ), thể thấp còi (chiều cao theo tuổi - HAZ) và thể gầy còm (cân nặng theo chiều cao - WHZ), lấy điểm ngưỡng dưới âm hai độ lệch chuẩn (-2SD) để xác định tình trạng suy dinh dưỡng. Các khái niệm về dinh dưỡng dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu được tích hợp nhằm làm rõ tác động qua lại giữa môi trường sống và tầm vóc trẻ nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế khoa học qua hai giai đoạn phối hợp:

Giai đoạn 1 áp dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả trên cỡ mẫu 400 trẻ từ 25 đến 60 tháng tuổi (thu thập dữ liệu hoàn chỉnh trên 392 trẻ) tại 4 trường mầm non. Quy trình chọn mẫu thực hiện qua bốc thăm ngẫu nhiên 4 xã trong tổng số 35 xã/thị trấn của huyện Hưng Hà, sau đó lập danh sách học sinh và rút mẫu hệ thống ngẫu nhiên theo khoảng cách mẫu k.

Giai đoạn 2 triển khai nghiên cứu bệnh chứng (case-control) nhằm xác định các yếu tố nguy cơ, tiến hành ghép cặp 1:1 theo lứa tuổi và giới tính giữa 121 trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân với 121 trẻ phát triển bình thường tại cùng địa bàn, nâng tổng số mẫu phân tích chuyên sâu lên 242 trẻ cùng người nuôi dưỡng chính.

Lý do lựa chọn thiết kế bệnh chứng ghép cặp và phân tích hồi quy logistic đa biến là nhằm lượng hóa chính xác tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95%, kiểm soát triệt để các yếu tố gây nhiễu, từ đó xác lập mối liên hệ nhân quả giữa tập quán chăm sóc, học vấn người mẹ, điều kiện vệ sinh với nguy cơ suy dinh dưỡng. Toàn bộ số liệu cân đo bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa chính xác 100g, thước gỗ đo đứng chính xác 1mm cùng phiếu phỏng vấn cấu trúc được xử lý qua phần mềm EPI-INFO 2002 và SPSS, áp dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Đề tài tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực đạo đức y sinh học theo Quyết định số 491/QĐ-YTCC của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận bốn phát hiện quan trọng mang tính thực chứng cao về tình trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non tại huyện Hưng Hà:

Thứ nhất, các chỉ số nhân trắc ghi nhận cân nặng trung bình của trẻ đạt 12,78 kg (nam 12,88 kg; nữ 12,68 kg) và chiều cao trung bình đạt 92,19 cm (nam 92,37 cm; nữ 92,02 cm). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chung là 30,9% (nam 28,9%, nữ 32,8%), trong đó suy dinh dưỡng độ I chiếm chủ yếu với 28,3%, độ II chiếm 2,6% và không có độ III. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 33,7% (nam 31,4%, nữ 36,0%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm ở mức 7,4% (nam 6,4%, nữ 8,5%). Không có trường hợp nào bị thừa cân hay béo phì (SD > +2).

Thứ hai, tỷ lệ suy dinh dưỡng gia tăng lũy tiến theo từng nhóm tuổi. Ở nhóm 25-36 tháng tuổi, tỷ lệ nhẹ cân là 24,8% và thấp còi là 30,5%; nhóm 37-48 tháng tuổi tăng lên 31,8% đối với nhẹ cân và 34,2% đối với thấp còi; đạt mức cao nhất ở nhóm 49-60 tháng tuổi với 36,9% trẻ bị nhẹ cân và 36,6% trẻ bị thấp còi.

Thứ ba, có sự chênh lệch rõ rệt giữa các xã nghiên cứu. Xã Kim Trung có tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân cao nhất với 34,0% và thấp còi là 36,0%, trong khi xã Hồng Lĩnh có tỷ lệ nhẹ cân thấp nhất là 27,2%. Thể gầy còm có sự dao động mạnh nhất, từ 2,0% tại Hồng Lĩnh lên tới 15,0% tại xã Đông Đô.

Thứ tư, phân tích bệnh chứng trên 242 trẻ chỉ ra các yếu tố nguy cơ nổi bật: trẻ có cân nặng sơ sinh dưới 2500g có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 4,33 lần so với trẻ đủ cân (OR = 4,02, p < 0,05); trẻ bị kiêng ăn khi ốm có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 4,01 lần (OR = 4,01, p < 0,05); trẻ không được ăn thức ăn giàu đạm thường xuyên có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 5,00 lần (OR = 5,00, p < 0,001); và trẻ không được cung cấp đủ chất béo thường xuyên có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,42 lần (OR = 2,01, p < 0,05).

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng theo lứa tuổi (từ 24,8% ở nhóm 25-36 tháng lên 36,9% ở nhóm 49-60 tháng) phản ánh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng tích lũy kéo dài khi trẻ chuyển sang giai đoạn ăn bổ sung hoàn toàn. Mặc dù 81,2% số trẻ được ăn bán trú tại trường mầm non, khẩu phần ăn tại các vùng nông thôn thuần nông vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và vi chất. Khảo sát chỉ ra chỉ có 53,7% bà mẹ thực hành cho trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày và 59,1% thực hiện tẩy giun định kỳ. Thêm vào đó, có tới 36,6% trẻ mắc bệnh hô hấp hoặc tiêu chảy trong 2 tuần trước điều tra; việc kết hợp với quan niệm kiêng khem sai lầm khi ốm đã đẩy nhanh quá trình suy kiệt thể trạng.

So với mức bình quân chung của trẻ dưới 5 tuổi toàn tỉnh Thái Bình năm 2005 (24,3%) và toàn quốc năm 2004 (26,6% nhẹ cân, 30,7% thấp còi), tỷ lệ suy dinh dưỡng tại 4 trường mầm non Hưng Hà cao hơn đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn khu vực Tây Nguyên (35,5% nhẹ cân, 42,4% thấp còi) và tương đương với một số vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng. Các dữ liệu dịch tễ học trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua các biểu đồ đường thể hiện xu hướng tăng trưởng nhân trắc theo ba nhóm tuổi và bảng tiếp liên 2x2 thể hiện mối liên hệ tỷ suất chênh OR của từng yếu tố nguy cơ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục truyền thông thay đổi hành vi cho bà mẹ và người nuôi dưỡng: Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông dinh dưỡng qua đài truyền thanh xã và tư vấn trực tiếp, hướng dẫn chế biến bữa ăn đủ 4 nhóm thực phẩm và kiên quyết xóa bỏ tập quán kiêng ăn khi trẻ ốm. Mục tiêu nâng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành dinh dưỡng đạt chuẩn từ 53,7% lên trên 85% vào cuối năm 2008. Đơn vị chủ trì: Trung tâm Y tế Dự phòng huyện Hưng Hà phối hợp cùng Trạm Y tế 4 xã và Hội Phụ nữ.

Thứ hai, nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú tại các trường mầm non: Bổ sung định lượng thực phẩm giàu đạm động vật tươi sống và dầu mỡ vào bữa trưa của 100% trẻ học bán trú; tổ chức tập huấn kiến thức dinh dưỡng học đường cho 100% cán bộ nuôi dạy trẻ. Mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân tại 4 trường mầm non xuống dưới 22% vào năm 2009. Đơn vị thực hiện: Ban Giám hiệu các trường mầm non phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh.

Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống theo dõi tăng trưởng và can thiệp y tế học đường: Thực hiện cân trẻ định kỳ hàng tháng và đo chiều cao hàng quý cho 100% học sinh mầm non; triển khai chiến dịch tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần đạt tỷ lệ bao phủ trên 95% trẻ từ 25 đến 60 tháng tuổi trong giai đoạn 2006-2010. Đơn vị thực hiện: Cán bộ y tế học đường phối hợp với mạng lưới cộng tác viên dinh dưỡng thôn xóm.

Thứ tư, cải tạo cơ sở hạ tầng vệ sinh môi trường hộ gia đình và trường học: Vận động người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng tỷ lệ sử dụng hố xí tự hoại từ 16,4% lên 60% vào năm 2010, mở rộng mạng lưới nước sạch sinh hoạt nhằm hạ tỷ lệ trẻ mắc các bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp xuống dưới 15%. Đơn vị thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà và Ban chỉ đạo Chăm sóc sức khỏe nhân dân cấp xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý y tế và y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện: Luận văn cung cấp bằng chứng dịch tễ học thực địa xác đáng, hỗ trợ quá trình xây dựng kế hoạch can thiệp dinh dưỡng, phân bổ ngân sách và thiết kế các chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại cộng đồng nông thôn.

Thứ hai, cán bộ quản lý giáo dục mầm non và giáo viên nuôi dạy trẻ: Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp nhà trường thiết kế khẩu phần ăn bán trú khoa học, nâng cao kỹ năng theo dõi biểu đồ tăng trưởng và xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với phụ huynh trong chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng.

Thứ ba, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng và Dinh dưỡng: Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu bệnh chứng ghép cặp, hướng dẫn chi tiết cách ứng dụng phần mềm SPSS và EPI-INFO để phân tích hồi quy logistic và kiểm soát sai số.

Thứ tư, các tổ chức phát triển xã hội và chuyên gia hoạch định chính sách an sinh: Đề tài cung cấp bức tranh chân thực về mối quan hệ tương hỗ giữa an ninh lương thực hộ gia đình, điều kiện vệ sinh môi trường và thể lực trẻ em, làm căn cứ xây dựng các dự án tài trợ phát triển nông thôn bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm trẻ 25-60 tháng tuổi tại Hưng Hà lại cao hơn mức trung bình chung của tỉnh?

Trẻ trong độ tuổi 25-60 tháng đã cai sữa mẹ hoàn toàn nhưng chế độ ăn bổ sung tại gia đình chưa đáp ứng nhu cầu năng lượng. Khảo sát tại 4 xã cho thấy tỷ lệ trẻ được ăn đủ 4 nhóm chất chỉ đạt 53,7%, thiếu hụt đạm và chất béo trầm trọng, khiến tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân lên tới 30,9% so với mức 24,3% toàn tỉnh.

Cân nặng sơ sinh dưới 2500g ảnh hưởng thế nào đến nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ mầm non?

Phân tích bệnh chứng chỉ ra trẻ sinh nhẹ cân dưới 2500g có nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao gấp 4,33 lần so với trẻ đủ cân (OR = 4,02, p < 0,05). Tình trạng suy dinh dưỡng bào thai khiến trẻ bị suy giảm dự trữ vi chất và hạn chế tốc độ tăng trưởng thể chất bù đắp trong những năm đầu đời.

Quan niệm kiêng khem khi trẻ bị ốm gây ra những hệ lụy gì đối với thể trạng của trẻ?

Nghiên cứu khẳng định thói quen kiêng ăn khi trẻ bị ốm làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng lên gấp 4,01 lần (p < 0,05). Việc cắt giảm dầu mỡ và thức ăn giàu đạm khi trẻ sốt hoặc tiêu chảy khiến cơ thể thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng đúng vào thời điểm cần tái tạo mô và phục hồi miễn dịch.

Diễn biến các thể suy dinh dưỡng thay đổi ra sao theo từng nhóm tuổi từ 25 đến 60 tháng?

Tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng lũy tiến rõ rệt theo thời gian: ở nhóm 25-36 tháng tuổi, tỷ lệ nhẹ cân là 24,8% và thấp còi là 30,5%; sau đó tăng mạnh và chạm đỉnh ở nhóm 49-60 tháng tuổi với tỷ lệ nhẹ cân đạt 36,9% và thấp còi đạt 36,6% do gánh nặng thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài.

Đề tài đã áp dụng phương pháp thống kê nào để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu?

Tác giả đã áp dụng thiết kế nghiên cứu bệnh chứng ghép cặp 1:1 theo độ tuổi và giới tính trên 242 trẻ, kết hợp lập bảng tiếp liên tính tỷ suất chênh OR và phân tích mô hình hồi quy logistic đa biến trên phần mềm SPSS và EPI-INFO 2002 nhằm loại trừ các biến số gây nhiễu.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ y tế công cộng của tác giả Phạm Gia Lai đã hoàn thành trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu với năm kết luận trọng tâm:

  • Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ 25-60 tháng tuổi tại 4 trường mầm non huyện Hưng Hà vẫn ở mức cao với 30,9% thể nhẹ cân, 33,7% thể thấp còi và 7,4% thể gầy còm.
  • Tình trạng suy dinh dưỡng tăng dần theo độ tuổi, đạt mức cao nhất ở nhóm trẻ 49-60 tháng tuổi với 36,9% nhẹ cân và 36,6% thấp còi.
  • Các yếu tố nguy cơ hàng đầu gồm cân nặng sơ sinh dưới 2500g (OR = 4,02), tập quán kiêng ăn khi ốm (OR = 4,01), khẩu phần thiếu đạm (OR = 5,00) và thiếu chất béo (OR = 2,01).
  • Thực hành chăm sóc dinh dưỡng của người mẹ và chất lượng bữa ăn bán trú tại trường học là hai mắt xích can thiệp mang tính quyết định.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực tiễn phục vụ Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 21/2001/QĐ-TTg.

Về lộ trình tiếp theo, các trường mầm non và cơ quan y tế địa phương cần hoàn thiện mô hình can thiệp dinh dưỡng học đường trước năm 2008, hướng tới mục tiêu hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tại Thái Bình xuống dưới 20% vào năm 2010. Sự phối hợp liên ngành đồng bộ giữa y tế, giáo dục và chính quyền địa phương chính là chìa khóa bảo đảm sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ cho thế hệ tương lai.