Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp, mỗi loại cây trồng có một vai trò quan trọng khác nhau đối với đời sống của con người đặc biệt là cây lương thực và cây thực phẩm. Cây rau đóng góp một phần không nhỏ và đây là một nhu cầu tất yếu của con người. Mặt khác, cây rau còn là cây có giá trị về kinh tế, xã hội, cung cấp các loại Vitamin hàng ngày cho con người. Với khí hậu nóng ẩm quanh năm nên thành phần, chủng loại rau ăn ở nước ta rất phong phú.
Một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây trồng đó là ảnh hưởng của nhóm sâu bệnh hại. Thành phần sâu hại trên các loại cây trồng rất đa dạng và phong phú, xuất hiện nhiều nhóm sâu phổ biến và gây hại nghiêm trọng. Tình hình sâu bệnh lại diễn biến khá phức tạp, xuất hiện nhiều loài dịch hại tàn phá, công tác phòng chống dịch hại cây trồng gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay ở Việt Nam, những loài côn trùng, nhện hại như nhện đỏ và bọ trĩ gây hại đáng kể đối với cây dưa chuột, bầu, bí, đậu, cam, chanh, bông, ớt, cà, hoa hồng và nhiều lọai cây trồng khác đã được ghi nhận từ lâu và trong những năm gần đây.
Để phòng trừ nhóm sâu, nhện này, người nông dân thường phun tới gần chục lần thuốc hóa học trong một vụ trồng, song hiệu quả lại không cao, gây ô nhiễm môi trường cũng như ảnh hưởng tới sức khoẻ của chính họ và những người chung quanh chúng trở thành dịch hại chủ yếu và phổ biến. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đang là vấn nạn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng. Nhất là những năm gần đây, tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày một gia tăng, nguyên nhân chính là do sử dụng phải nguồn thực phẩm có nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học chứa chất độc hại trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học, phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học, một phần nâng cao hiệu quả kinh tế, phần nữa là 1 không gây ra ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi.
Không những thế, dùng thuốc không đúng kĩ thuật sẽ diệt cả côn trùng và vi sinh vật có ích, từ đó tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, bùng phát mạnh hơn và sẽ nhanh chóng tạo nên tính kháng thuốc của sâu bệnh. Ngày nay, có nhiều nghiên cứu đề cập đến sử dụng nhện bắt mồi trong phòng trừ nhện hại cây. Với điều kiện khí hậu ở Việt Nam cũng như các nước vùng Nam Á, các nhà khoa học đã ghi nhận sự có mặt của một số loài thuộc giống Amblyseius cũng như vai trò của chúng trong việc tấn công nhóm nhện hại cây trong tự nhiên. Trong xu thế phát triển chung của toàn thế giới là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và ổn định, đòi hỏi công tác bảo vệ thực vật phải có cái nhìn sâu hơn trong việc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).
Trong IPM, việc sử dụng biện pháp sinh học phải là biện pháp chính còn thuốc hóa học chỉ là vũ khí cuối cùng khi các biện pháp khác đã sử dụng mà chưa hạn chế được tác hại của sâu bệnh. Do đó việc sử dụng các loài thiên địch được xem là một cách hiệu quả nhất đối với chúng. Biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại bằng thiên địch đang được áp dụng phổ biến, có hiệu quả cao, an toàn với con người, không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái tự nhiên. Nhưng hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc hóa học trong phòng chống bọ trĩ và nhện đỏ nên tính mẫn cảm của nhện bắt mồi cũng được coi là một vấn đề đáng được quan tâm.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, đươc sự phân công của bộ môn côn trùng, khoa nông học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đức Tùng tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá tính mẫn cảm của nhện bắt mồi họ Phytoseiidae với một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật thường dùng trong phòng chống nhện đỏ và bọ trĩ’’ 2 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá tính mẫn cảm của nhện bắt mồi với một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật thường dùng để phòng chống nhện đỏ, bọ trĩ nhằm xác định loại thuốc BVTV có hiệu quả đối với nhện đỏ và bọ trĩ mà ít ảnh hưởng đến nhện bắt mồi.
Yêu cầu - Điều tra các loại thuốc bảo vệ thực vật hiện đang được sử dụng trong phòng chống nhện đỏ, bọ trĩ tại 1 số vùng Hà Nội - Điều tra thành phần nhện bắt mồi họ Phytoseiidae và diễn biến mật độ nhện bắt mồi phổ biến trên đồng ruộng - Đánh giá tính mẫn cảm của nhện bắt mồi đối với một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật thường dùng trong phòng chống nhện đỏ và bọ trĩ 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Một số nghiên cứu về nhện hại Họ Tetranychidae có tổng cộng 78 loài thuộc được chia cho 2 phân họ, 5 bộ, 16 chi và 13 nhóm loài. Trong đó có 3 loài mới, Eotetranychus rubricans, Oligonychus gotohi và Tetranychus parakanzawai được mô tả (Ehara, 1999).
Họ Tetranychidae là một trong những họ quan trọng nhất của Acari về tác động kinh tế. Trong họ Tetranychidae có 1 loài dịch hại nông nghiệp chính như Tetranychus urticae. Từ năm 1758 đến nay, họ Tetranychidae được thống kê với số lượng là 1.257 loài, tìm thấy trên hơn 11.745 cây ký chủ và được ghi nhận trong 17 bảng với hơn 5.380 có liên quan (Migeon & cs. Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch là một trong những loài phổ biến nhất trên toàn thế giới, là một trong những loài gây hại kinh tế quan trọng nhất trên nhiều loại cây trồng ngoài trời và trong nhà lưới.
Ngoài ra, ký chủ của Nhện đỏ hai chấm T. urticae rất rộng như: các loại cây dại, cây ăn trái, cây rau màu hay cây thuốc nhện ăn các lục lạp tế bào của lá làm cho là chuyển từ màu xanh sang màu vàng nhạt đến nâu với mức độ gây hại nặng có thể gây khô rụng lá dẫn đến cây bị chết (Zhang, 2003). Sự kiểm soát của các loài nhện hại vẫn chủ yếu dựa vào việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Do vòng đời ngắn, tốc độ sinh trưởng nhanh và số lượng cá thể được sinh ra lớn nên nó có thể phát triển khả năng kháng các hoạt chất này rất nhanh.
Kết quả là, nó trở thành “loài kháng nhiều nhất” xét về tổng số lượng thuốc trừ sâu mà quần thể đã trở nên kháng thuốc, và việc kiểm soát nó đã trở thành vấn đề ở nhiều khu vực trên toàn thế giới (Van Leeuwen & cs. Theo dõi tình trạng kháng Abamectin với nhện hai chấm T. urticae, sử dụng liều chẩn đoán cho thấy các chủng kháng thuốc từ Hà Lan (NL-00), Colombia 4 (COL-00) và Brazil (BR3-00). Các chủng kháng abamectin NL-00 và COL-00 cho thấy hoạt tính MFO cao hơn nhiều lần so với chủng GSS nhạy cảm.
Hơn nữa, glutathione S cao hơn. Hoạt động -transferase (GST) được phát hiện đối với 1- chloro-2,4-dinitrobenzene (CDNB) và monolorobimane, một chất nền mới dẫn đến sản phẩm huỳnh quang khi liên hợp với glutathione. Mức tăng hoạt tính GST đối với CDNB lên 1,6 và 2,0 lần đo được ở các chủng COL-00 và NL-00 gần như tỷ lệ thuận với các yếu tố đề kháng của 26 và 54, tương ứng. Tính kháng abamectin ở chủng Brazil không ổn định trong phòng thí nghiệm (Stumpf & Nauen, 2002).
Tác dụng của Imidacloprid đối với sự phát triển của nhện hai chấm T. urticae đã được nghiên cứu trong các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm sử dụng với con cái trên đĩa lá đậu. Được tiếp xúc trực tiếp với các công thức phun của Imidacloprid hoặc được cho ăn trên đĩa được cắt từ cây đậu được xử lý có hệ thống. urticae được điều trị bằng Imidacloprid sinh sản nhiều trứng hơn 10–26% trong 12 ngày đầu tiên của tuổi trưởng thành và nhiều hơn 19–23% trong thời kỳ trưởng thành so với phương pháp đối chứng chỉ dùng nước.
Tăng sản lượng trứng xảy ra ngay sau khi tiếp xúc và kéo dài khoảng 15 ngày ở những con nhện được phun thuốc. Ở những con nhện tiếp xúc với Imidacloprid khi ăn phải, sự gia tăng sản lượng trứng không rõ ràng cho đến sau 6 ngày và kéo dài đến khoảng ngày 18. Tuổi thọ ở những con nhện ăn phải Imidacloprid cao hơn đáng kể ở những con nhện được phun thuốc. Tầm quan trọng của Imidacloprid kích thích khả năng sinh sản ở T.
urticae đối với việc quản lý dịch hại trong các hệ thống cây trồng vốn thường xuyên sử dụng thuốc trừ sâu này (James & Price, 2002). Những kết quả nghiên cứu cơ bản ở trên đã chỉ ra rằng thành phần nhện hại cây trồng trên thế giới rất phong phú và là một trong những sinh vật gây ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và chất lượng cây trồng. Đa số nhện hại có sức sinh sản cao cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng với môi trường mới và ngay 5 cả trên một số môi trường chất độc. Nhưng nhìn chung hiện nay nhện hại vẫn phương pháp khống chế nhện nhỏ hại cây trồng chủ yếu được sử dụng thiên địch.
Một số nghiên cứu về bọ trĩ Bọ trĩ là côn trùng có kích thước cơ thể nhỏ bé chúng khó nhìn thấy bằng mắt thường, ngay cả khi xuất hiện với số lượng lớn. Bọ trĩ thuộc lớp côn trùng Isecta, bộ cánh tơ Thysanoptera. Trên thế giới có khoảng 5.000 loài bọ trĩ nhưng trong đó chỉ có 1% số loài là gây hại (Mound & cs. Theo Lewis (1973) cho rằng, chiều dài cơ thể của bọ trĩ dao động từ 0,5 đến 14 mm.
Một số loài là sinh vật bắt mồi, các loài khác ăn phấn hoa, nấm, các tàn dư cây trồng, hoặc là ăn tạp. Khi quan sát bằng mắt thường, bọ trĩ có dạng thon. Đầu và sự phân chia giữa ngực và bụng đôi khi rõ ràng. Trong 20 năm qua, bọ trĩ T.
palmi đã lây lan tới các vùng Đông Nam Á, Nhật Bản và các vùng còn lại của Châu Á, Papua New Guinea, các hòn đảo ở Châu Đại Dương, phía Bắc Châu Phi, Trung và Nam Mỹ. Chúng đã nhanh chóng trở thành dịch hại chính trên cây trồng thuộc họ bầu bí và những cây trồng thuộc họ cà ở vùng nhiệt đới. Từ khi phát hiện T.