Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, các nhóm cây rau màu và cây ăn quả đóng vai trò thiết yếu đối với nguồn cung thực phẩm và giá trị kinh tế. Tuy nhiên, năng suất và phẩm chất cây trồng thường xuyên bị đe dọa nghiêm trọng bởi các nhóm dịch hại chích hút, đặc biệt là nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae) và bọ trĩ (Thrips palmi). Đây là những loài dịch hại có kích thước cơ thể nhỏ bé, vòng đời ngắn, tốc độ sinh sản nhanh và khả năng phát triển tính kháng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) rất cao.
Để đối phó với áp lực dịch hại, tập quán canh tác của nông dân tại nhiều vùng trồng rau chuyên canh vẫn phụ thuộc nặng nề vào các loại thuốc hóa học, với tần suất phun xịt lên tới gần chục lần trong một vụ canh tác. Việc lạm dụng thuốc BVTV hóa học không mang lại hiệu quả bền vững mà còn gây ô nhiễm môi trường, để lại dư lượng độc hại trong nông sản, đe dọa sức khỏe cộng đồng, đồng thời tiêu diệt các loài thiên địch tự nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái và kích thích dịch hại bùng phát mạnh hơn.
Trong khuôn khổ chiến lược Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), việc ứng dụng biện pháp sinh học sử dụng các loài nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae được coi là hướng đi bền vững và an toàn. Tuy nhiên, để tích hợp hiệu quả thiên địch vào quy trình phòng trừ, việc nắm bắt mức độ mẫn cảm và đánh giá tác động dưới mức gây chết của các loại thuốc BVTV phổ biến đối với nhện bắt mồi là yêu cầu cấp thiết. Đề tài khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá tính mẫn cảm của nhện bắt mồi họ Phytoseiidae với một số hoạt chất thuốc BVTV thường dùng trong phòng chống nhện đỏ và bọ trĩ, nhằm xác định những loại thuốc có hiệu quả diệt trừ dịch hại nhưng ít ảnh hưởng tiêu cực đến nhện bắt mồi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Điều tra các loại thuốc BVTV hiện đang được nông dân sử dụng trong phòng chống nhện đỏ và bọ trĩ tại một số vùng canh tác thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.
- Điều tra thành phần loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae và diễn biến mật độ của các loài phổ biến trên đồng ruộng trồng đậu cove và cây cà pháo.
- Đánh giá tính mẫn cảm (thông qua nồng độ gây chết $LC_{50}$, $LC_{30}$) và ảnh hưởng của thuốc BVTV ở nồng độ dưới mức gây chết ($LC_{30}$) đến các chỉ tiêu sinh học và sức tăng quần thể của nhện bắt mồi.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhện bắt mồi họ Phytoseiidae (chủ đạo là loài Neoseiulus longispinosus, cùng với Amblyseius largoensis và Euseius aizawai); các loài vật mồi gồm nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae) và nhện kho (Carpoglyphus lactis).
- Vật liệu và hóa chất: 8 công thức thuốc BVTV khảo nghiệm (Ortus 5SC, Comite 73EC, Detect 500SC, Redmite 300EC, Catex 3,6EC, Oberon 240SC, Movento 150OD và đối chứng nước lã).
- Không gian nghiên cứu: Phòng thí nghiệm 109, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; vùng khảo sát thực địa tại xã Văn Đức và xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 02/2021 đến tháng 09/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết phân loại học ve bét (Acari: Phytoseiidae) của McMurtry và cộng sự (2013), de Moraes và cộng sự, cùng các nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái học của loài Neoseiulus longispinosus (Evans) và cơ chế tác động của hóa chất BVTV đến thiên địch (Hamedi & cs., 2009; Poletti & cs., 2007; Kim & cs., 2005; Nguyễn Văn Đĩnh, 1994, 2002; Nguyễn Đức Tùng, 2009).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra được triển khai theo các quy trình chuẩn hóa:
- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát nông dân: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 10 hộ nông dân canh tác rau màu tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm về danh mục thuốc BVTV, nồng độ, liều lượng, thiết bị phun, thời điểm xử lý và thời gian cách ly.
- Phương pháp điều tra đồng ruộng: Thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-38:2010/BNNPTNT. Điều tra thành phần loài định kỳ 1 tháng/lần (10 điểm ngẫu nhiên, 10 lá/điểm, cách bờ tối thiểu 2 m). Điều tra diễn biến mật độ 7 ngày/lần trên 10 điểm chéo góc (thu thập 10 lá/điểm theo 3 tầng lá: non, bánh tẻ, già).
- Phương pháp nhân nuôi sinh học trong phòng thí nghiệm:
- Cây ký chủ: Trồng đậu cove cách ly trong lồng nhà màng bằng đất sạch TRIBAT để thu lá phục vụ thí nghiệm.
- Nuôi vật mồi: Nuôi nhện đỏ hai chấm T. urticae trên lá bìm bôi cắm trong bình nước cách ly; nuôi nhện kho Carpoglyphus lactis trong hộp nhựa có thông khí vi mô bằng men dinh dưỡng.
- Nuôi nhện bắt mồi: Nuôi N. longispinosus trên đĩa lá bìm bôi đặt trên tấm mút ẩm trong khay nước cách ly; nuôi A. largoensis trong hộp caramen với mồi nhện kho và men, sử dụng sợi chỉ đen làm giá thể đẻ trứng.
- Phương pháp thử độc tính sinh học (Bioassay):
- Phương pháp nhúng lá (Leaf-dip method): Đĩa lá đậu ($4 \times 4\text{ cm}$) có sẵn trứng nhện đỏ được nhúng vào dung dịch thuốc trong 5 giây, để khô tự nhiên, sau đó đặt lên bông ẩm bão hòa trong đĩa Petri. Thả 10 nhện cái trưởng thành vào mỗi đĩa lá, lặp lại 5 lần/nghiệm thức.
- Đánh giá tỷ lệ tử vong ở các mốc 6, 12, 24, 36, 48, 60, 72, 84 và 96 giờ. Hiệu lực thuốc được hiệu chỉnh theo công thức Abbott.
- Phương pháp xác định nồng độ $LC_{50}$ và $LC_{30}$:
- Thử nghiệm thăm dò qua chuỗi nồng độ pha loãng gradient ($C_1V_1 = C_2V_2$) quy đổi về đơn vị ppm. Chuyển đổi tỷ lệ phần trăm chết sang giá trị Probits và nồng độ sang $\log_{10}(\text{ppm})$, xác định đường hồi quy tuyến tính Probit để tính $LC_{50}$ và $LC_{30}$.
- Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học và lập bảng sống (Life Table):
- Theo dõi cá thể nhện cái sống sót sau khi tiếp xúc với liều $LC_{30}$ trong 24 giờ. Ghép cặp cá thể trên đĩa lá sạch ở nhiệt độ $27^\circ\text{C}$, ẩm độ $75%$, quang kỳ 16 giờ sáng : 8 giờ tối.
- Đo kích thước các pha phát dục qua ảnh chụp kính hiển vi soi nổi bằng phần mềm AxioVision Rel. 8.
- Lập bảng sống theo mô hình Birch (1948) và Nguyễn Văn Đĩnh (1994) để tính toán: tỷ lệ sống sót ($l_x$), sức sinh sản ($m_x$), hệ số nhân thuần ($R_0 = \sum l_x m_x$), thời gian một thế hệ ($T$), tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m = \frac{\ln R_0}{T}$), thời gian tăng đôi quần thể ($DT = \frac{\ln 2}{r_m}$) và giới hạn tăng tự nhiên ($\lambda = e^{r_m}$).
- Xử lý số liệu thống kê: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kiểm tra phân bố chuẩn bằng Shapiro-Wilk; sử dụng One-way ANOVA (Tukey, Tamhane) cho dữ liệu phân bố chuẩn hoặc Kruskal-Wallis, Mann-Whitney U cho dữ liệu phi chuẩn; phân tích tỷ lệ giới tính bằng mô hình tuyến tính tổng quát hóa (Generalized Linear Model - GLM dạng nhị phân) ở mức ý nghĩa $p \le 0{,}05$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Trình bày cơ sở thực tiễn và tính cấp bách của đề tài, nêu bật mâu thuẫn giữa việc lạm dụng hóa chất BVTV và yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững. Xác định rõ mục tiêu tổng quát là tìm kiếm các hoạt chất thuốc BVTV vừa đảm bảo hiệu quả trừ nhện đỏ, bọ trĩ vừa an toàn với nhện bắt mồi họ Phytoseiidae, đồng thời đặt ra 3 yêu cầu nghiên cứu cụ thể.
Phần II: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về:
- Nhện hại và bọ trĩ: Đặc điểm gây hại, phổ ký chủ và tình trạng kháng thuốc của nhện đỏ hai chấm T. urticae (họ Tetranychidae với 1.257 loài trên toàn cầu) và bọ trĩ Thrips palmi.
- Nhện bắt mồi họ Phytoseiidae: Phân loại (hơn 1.200 loài thuộc các giống Amblyseius, Neoseiulus, Typhlodromus, Phytoseiulus), hình thái, tập tính săn mồi chuyên tính hoặc đa thực.
- Loài Neoseiulus longispinosus: Đặc điểm sinh học, thời gian phát dục, khả năng tiêu thụ con mồi và tiềm năng kiểm soát sinh học tại các nước châu Á và Việt Nam.
- Tính kháng và tác động dưới mức gây chết của thuốc BVTV: Phân tích các nghiên cứu quốc tế về ảnh hưởng của các nhóm Neonicotinoid, Acaricide (Abamectin, Fenpyroximate, Diafenthiuron, Imidacloprid...) lên tỷ lệ sống, khả năng sinh sản và phản ứng chức năng của nhện bắt mồi.
Phần III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết địa điểm, thời gian, đối tượng và dụng cụ nghiên cứu; thiết lập quy trình chuẩn cho các nội dung: phỏng vấn hộ nông dân, phương pháp điều tra phát hiện dịch hại trên đồng ruộng theo QCVN 01-38:2010/BNNPTNT, kỹ thuật nhân nuôi sinh học các loài ve bét trong phòng thí nghiệm, phương pháp thử độc tính sinh học nhúng lá, kỹ thuật đo đạc vi thể qua phần mềm AxioVision Rel. 8, phương pháp tính toán tham số bảng sống và các thuật toán phân tích thống kê trên SPSS.
Phần IV: Kết quả và thảo luận
Chương này tập trung trình bày các kết quả thực nghiệm và điều tra thực tế thông qua các bảng số liệu và phân tích chuyên sâu:
1. Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại vùng rau Văn Đức, Gia Lâm
Kết quả khảo sát 10 hộ dân cho thấy cơ cấu thuốc BVTV trừ nhện đỏ và bọ trĩ có sự phân hóa rõ rệt:
| Mục đích phòng trừ |
Tên thương phẩm |
Hoạt chất chính |
Tỷ lệ hộ sử dụng (%) |
| Trừ nhện đỏ |
DETECT 50WP |
Diafenthiuron 50% w/w |
60% (6/10 hộ) |
|
REDMITE 500SC |
Diafenthiuron 500 g/l |
40% (4/10 hộ) |
|
MIKTOX 2.0EC |
Abamectin 1.2% |
30% (3/10 hộ) |
|
ATAMITE 73EC |
Propargite 73% w/w |
10% (1/10 hộ) |
|
REDARMY 110SC |
Etoxazole 110 g/l |
10% (1/10 hộ) |
| Trừ bọ trĩ |
CATEX 3.6EC |
Abamectin 3.6% w/w |
60% (6/10 hộ) |
|
ANVADO 200SC |
Imidacloprid 200 g/l |
30% (3/10 hộ) |
|
STUN 20SL |
Imidacloprid 200 g/l |
20% (2/10 hộ) |
|
BIFFINY 10WP |
Imidacloprid 10% w/w |
10% (1/10 hộ) |
2. Thành phần và biến động của nhện bắt mồi trên đồng ruộng
- Trên cây đậu cove tại xã Văn Đức (vụ xuân hè 2021), ghi nhận 3 loài nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae:
- Euseius aizawai: Phổ biến cao trong tháng 3 và tháng 4 (mức
+++, tỷ lệ xuất hiện >50–75%), giảm xuống mức rất ít (+, <25%) trong tháng 5.
- Neoseiulus longispinosus: Không xuất hiện trong tháng 3 (
-), xuất hiện ít trong tháng 4 (+), tăng nhanh và đạt mức phổ biến cao trong tháng 5 (+++).
- Amblyseius largoensis: Không xuất hiện trong tháng 3 (
-), xuất hiện rất ít trong tháng 4 và tháng 5 (+).
- Trên cây cà pháo tại xã Cổ Bi, ghi nhận sự hiện diện của các loài Paraphytoseius cracentis và Neoseiulus longispinosus.
3. Độc tính của các loại thuốc BVTV đối với nhện bắt mồi
- Thử nghiệm 6 loại thuốc phòng trừ nhện đỏ trên N. longispinosus cho thấy thuốc Detect 500SC (Diafenthiuron) có độc tính gây chết cao nhất, tiếp theo là Comite 73EC (Propargite).
- Đối với loài A. largoensis, thuốc Detect 500SC cũng thể hiện mức độ độc hại cao nhất trong số các hoạt chất thử nghiệm.
4. Tác động của liều dưới mức gây chết ($LC_{30}$) lên đặc điểm sinh học và bảng sống của N. longispinosus
Khi cho N. longispinosus tiếp xúc với nồng độ $LC_{30}$ của Detect 500SC và Comite 73EC (nuôi bằng nhện đỏ T. urticae ở $27^\circ\text{C}$, ẩm độ 75%):
- Kích thước hình thái: Chiều rộng của nhện đực và nhện cái trưởng thành ở các công thức xử lý thuốc bị thu hẹp rõ rệt so với đối chứng nước lã ($p \le 0{,}05$).
- Thời gian phát dục: Vòng đời của nhện bắt mồi ở các nghiệm thức xử lý thuốc không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với đối chứng.
- Sức sinh sản: Tổng số lượng trứng đẻ của cá thể cái tiếp xúc với Detect 500SC và Comite 73EC giảm mạnh và có ý nghĩa thống kê so với đối chứng.
- Các tham số tăng quần thể:
| Tham số quần thể |
Công thức Đối chứng |
Công thức Detect 500SC |
Công thức Comite 73EC |
| Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$) |
0,282 |
0,278 |
0,287 |
| Hệ số nhân thuần ($R_0$) |
Ghi nhận trong bảng sống |
Giảm theo sức đẻ trứng |
Giảm theo sức đẻ trứng |
| Thời gian thế hệ ($T$) |
Ổn định tương đương |
Ổn định tương đương |
Ổn định tương đương |
Phân tích thống kê cho thấy giá trị tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$) giữa các công thức xử lý thuốc và đối chứng không có sự sai khác rõ rệt ($p > 0{,}05$).
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, rút ra kết luận về thành phần thiên địch, mức độ độc hại của các hoạt chất BVTV và đề xuất giải pháp kỹ thuật nhằm kết hợp hài hòa biện pháp hóa học và sinh học trong thực tiễn sản xuất.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định được thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại vùng chuyên canh rau Gia Lâm: Nông dân sử dụng chủ yếu các hoạt chất Diafenthiuron (Detect chiếm 60%, Redmite chiếm 40%), Abamectin (Catex chiếm 60%, Miktox chiếm 30%) và Imidacloprid (Anvado chiếm 30%, Stun chiếm 20%).
- Xác định được thành phần nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trên đậu cove gồm 3 loài (E. aizawai, N. longispinosus, A. largoensis) với sự thay đổi ưu thế theo mùa vụ (từ E. aizawai ở đầu vụ chuyển sang N. longispinosus ở cuối vụ); ghi nhận P. cracentis và N. longispinosus trên cây cà pháo.
- Định lượng được độc tính tương đối: Hoạt chất Diafenthiuron (Detect 500SC) và Propargite (Comite 73EC) là hai loại thuốc có độc lực cao nhất đối với nhện bắt mồi N. longispinosus và A. largoensis.
- Đánh giá định lượng tác động dưới mức gây chết ($LC_{30}$): Tiếp xúc với Detect 500SC và Comite 73EC làm suy giảm kích thước chiều rộng cơ thể và làm giảm rõ rệt tổng sản lượng trứng đẻ của N. longispinosus, nhưng không làm biến đổi đáng kể thời gian phát dục các pha và tỷ lệ tăng tự nhiên của quần thể ($r_m$ lần lượt đạt 0,282 ở đối chứng; 0,278 ở Detect 500SC và 0,287 ở Comite 73EC).
Khuyến nghị và giải pháp ứng dụng
- Hạn chế sử dụng các hoạt chất có độc tính tiếp xúc và tồn dư cao đối với thiên địch như Diafenthiuron (Detect 500SC) và Propargite (Comite 73EC) tại các thời điểm mật độ nhện bắt mồi tự nhiên đang phát triển mạnh trên đồng ruộng.
- Ưu tiên lựa chọn các loại thuốc BVTV có tính chọn lọc cao, ít ảnh hưởng đến thiên địch để bảo tồn và phát huy vai trò khống chế dịch hại của nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trong các mô hình IPM.
Đóng góp khoa học
Khóa luận đã bổ sung các dẫn liệu sinh học và độc học sinh thái quan trọng về loài thiên địch Neoseiulus longispinosus tại Việt Nam; cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về bảng sống ($R_0, T, r_m, DT, \lambda$) dưới tác động của liều lượng thuốc BVTV dưới mức gây chết, tạo luận cứ khoa học cho việc đánh giá độ an toàn sinh thái của nông dược.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Quy mô khảo sát nông dân còn hẹp (10 hộ tại xã Văn Đức, Gia Lâm), chưa phản ánh toàn diện tập quán canh tác ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác.
- Các thí nghiệm sinh học chuyên sâu về liều dưới mức gây chết ($LC_{30}$) và bảng sống mới chỉ tập trung vào 2 loại thuốc (Detect 500SC và Comite 73EC) trên loài N. longispinosus trong điều kiện phòng thí nghiệm cố định ($27^\circ\text{C}$, $75%$ RH), chưa mở rộng sang các hoạt chất khác như Abamectin, Spiromesifen, Spirotetramat hoặc loài A. largoensis.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá tác động của toàn bộ các hoạt chất BVTV trừ bọ trĩ và nhện đỏ phổ biến lên đầy đủ các loài nhện bắt mồi ở nhiều dải nhiệt độ khác nhau.
- Tiến hành các thử nghiệm bán tự nhiên (nhà màng) và trên đồng ruộng mở để kiểm chứng khả năng kiểm soát nhện đỏ của N. longispinosus khi kết hợp xử lý thuốc BVTV chọn lọc.
- Nghiên cứu cơ chế và tốc độ hình thành tính kháng thuốc của quần thể nhện bắt mồi qua nhiều thế hệ chọn lọc nhân tạo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật phục vụ trực tiếp cho:
- Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Côn trùng học và Sinh thái học nông nghiệp: Tham khảo quy trình chuẩn về nhân nuôi nhện bắt mồi và vật mồi trong phòng thí nghiệm; phương pháp nhúng lá xác định độc học sinh học ($LC_{50}, LC_{30}$) qua phân tích Probits; phương pháp xây dựng bảng sống và phân tích tham số quần thể ($r_m, R_0, T$).
- Cán bộ khuyến nông và kỹ sư bảo vệ thực vật: Nắm bắt danh mục thuốc tương thích và không tương thích với thiên địch để xây dựng các gói kỹ thuật quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây rau màu đạt chuẩn an toàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Những loại thuốc BVTV nào được nông dân vùng khảo sát sử dụng phổ biến nhất để trừ nhện đỏ và bọ trĩ?
Trong phòng trừ nhện đỏ, thuốc DETECT 50WP (Diafenthiuron) được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 60% số hộ, tiếp theo là REDMITE 500SC (Diafenthiuron) với 40% và MIKTOX 2.0EC (Abamectin) với 30%. Trong phòng trừ bọ trĩ, thuốc CATEX 3.6EC (Abamectin) chiếm ưu thế lớn nhất với 60% số hộ sử dụng, tiếp theo là ANVADO 200SC (Imidacloprid) với 30% và STUN 20SL (Imidacloprid) với 20%.
2. Thành phần loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trên cây đậu cove tại xã Văn Đức biến động như thế nào qua các tháng?
Có 3 loài nhện bắt mồi được ghi nhận trên đậu cove. Loài Euseius aizawai chiếm ưu thế lớn ở giai đoạn đầu vụ (tháng 3 và 4 đạt mức phổ biến +++), sau đó giảm mạnh vào tháng 5 (mức +). Ngược lại, loài Neoseiulus longispinosus không xuất hiện trong tháng 3 (-), xuất hiện ít trong tháng 4 (+) và phát triển mạnh nhất vào tháng 5 (đạt mức +++). Loài Amblyseius largoensis xuất hiện với mật độ rất thấp (mức +) trong tháng 4 và 5.
3. Trong các loại thuốc BVTV được khảo nghiệm, loại nào gây độc mạnh nhất đối với nhện bắt mồi?
Thuốc Detect 500SC (hoạt chất Diafenthiuron 500 g/l) thể hiện độc tính mạnh nhất đối với cả hai loài nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus và Amblyseius largoensis, theo sau là thuốc Comite 73EC (hoạt chất Propargite 73%).
4. Tiếp xúc với nồng độ dưới mức gây chết ($LC_{30}$) của Detect 500SC và Comite 73EC gây ra những biến đổi sinh học nào ở N. longispinosus?
Xử lý ở liều $LC_{30}$ làm giảm rõ rệt chiều rộng cơ thể của cả cá thể đực và cái trưởng thành, đồng thời làm suy giảm đáng kể tổng sản lượng trứng đẻ của cá thể cái. Tuy nhiên, thời gian phát dục qua các pha và vòng đời của nhện bắt mồi không bị sai khác rõ rệt so với công thức đối chứng.
5. Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$) của quần thể N. longispinosus sau khi xử lý thuốc ở liều $LC_{30}$ có bị suy giảm nghiêm trọng không?
Không. Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$) của quần thể N. longispinosus ở nhiệt độ $27^\circ\text{C}$ đạt 0,282 ở công thức đối chứng; 0,278 ở công thức xử lý Detect 500SC và 0,287 ở công thức xử lý Comite 73EC. Sự khác biệt giữa các nghiệm thức không mang ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$), cho thấy quần thể sống sót vẫn duy trì được khả năng phát triển quần thể tương đương đối chứng.
Kết luận
Khóa luận đã cung cấp bức tranh thực nghiệm hoàn chỉnh về tính mẫn cảm và phản ứng sinh học của nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus đối với các hoạt chất thuốc BVTV phổ biến trừ nhện đỏ và bọ trĩ. Kết quả chứng minh các hoạt chất Diafenthiuron (Detect 500SC) và Propargite (Comite 73EC) có độc tính cao nhất và làm suy giảm sức đẻ trứng của nhện bắt mồi ở liều dưới mức gây chết ($LC_{30}$), dù không làm thay đổi đáng kể tỷ lệ tăng tự nhiên ($r_m$). Đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp định hướng sử dụng thuốc BVTV an toàn, bảo tồn quần thể thiên địch trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp trên cây trồng.