Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của ong anisoptermalus calandrae howard ký sinh mọt cánh cứng hại trong kho tại tỉnh đồng tháp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Anisopteromalus calandrae ký sinh mọt cánh cứng hại kho tại Đồng Tháp.

Chuyên ngành

Côn trùng học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

214
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của ong Anisopteromalus calandrae

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sinh học của ong Anisopteromalus calandrae, một loài ký sinh trùng quan trọng trong việc kiểm soát mọt cánh cứng hại kho. Các đặc điểm như vòng đời, tập tính ký sinh, và khả năng sinh sản được phân tích chi tiết. Kết quả cho thấy ong có khả năng ký sinh hiệu quả trên mọt thuốc lá, với tỷ lệ ký sinh cao trong điều kiện phòng thí nghiệm.

1.1. Vòng đời và tập tính ký sinh

Vòng đời của ong Anisopteromalus calandrae bao gồm các giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Ong trưởng thành có tập tính tìm kiếm vật chủ là mọt cánh cứng để đẻ trứng. Nghiên cứu chỉ ra rằng ong cái có khả năng đẻ trứng trên nhiều vật chủ khác nhau, đặc biệt là mọt thuốc lámọt ngô.

1.2. Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của ong Anisopteromalus calandrae được đánh giá qua số lượng trứng đẻ trên mỗi vật chủ. Kết quả cho thấy ong cái có thể đẻ trung bình 20-30 trứng trên mỗi vật chủ, với tỷ lệ nở cao trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm tối ưu.

II. Đặc điểm sinh thái của ong Anisopteromalus calandrae

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của ong Anisopteromalus calandrae tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và mật độ vật chủ đến sự phát triển và hiệu quả ký sinh của ong. Kết quả cho thấy ong phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 25-30°C và độ ẩm 70-80%.

2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm

Nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của ong Anisopteromalus calandrae. Nghiên cứu chỉ ra rằng ong có tỷ lệ ký sinh cao nhất ở nhiệt độ 25-30°C và độ ẩm 70-80%. Điều kiện này cũng giúp ong có tuổi thọ dài hơn và khả năng sinh sản tốt hơn.

2.2. Ảnh hưởng của mật độ vật chủ

Mật độ vật chủ cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả ký sinh của ong Anisopteromalus calandrae. Khi mật độ vật chủ cao, ong có xu hướng đẻ nhiều trứng hơn, dẫn đến tỷ lệ ký sinh tăng. Tuy nhiên, mật độ quá cao có thể dẫn đến cạnh tranh giữa các cá thể ong.

III. Ứng dụng trong kiểm soát mọt cánh cứng hại kho

Nghiên cứu đánh giá khả năng kiểm soát mọt cánh cứng của ong Anisopteromalus calandrae trong điều kiện phòng thí nghiệm và thực tế tại Đồng Tháp. Kết quả cho thấy ong có hiệu quả cao trong việc giảm thiểu số lượng mọt ngômọt thuốc lá trong kho bảo quản.

3.1. Hiệu quả trong phòng thí nghiệm

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, ong Anisopteromalus calandrae đã giảm đáng kể số lượng mọt ngômọt thuốc lá sau 30 ngày thả ong. Tỷ lệ ký sinh đạt trên 80%, chứng tỏ hiệu quả cao của ong trong việc kiểm soát mọt.

3.2. Ứng dụng thực tế tại Đồng Tháp

Tại Đồng Tháp, nghiên cứu đã thử nghiệm thả ong Anisopteromalus calandrae trong các kho bảo quản nông sản. Kết quả cho thấy ong giúp giảm thiểu đáng kể thiệt hại do mọt cánh cứng gây ra, đồng thời không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của ong anisoptermalus calandrae howard ký sinh mọt cánh cứng hại trong kho tại tỉnh đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo quản nông sản sau thu hoạch là quá trình thứ hai sau trồng trọt của sản xuất nông nghiệp. Bảo quản nông sản vừa đảm bảo dự trữ hàng hóa nông sản cho tiêu dùng, phát triển kinh tế, vừa đảm bảo hạt giống cho vụ trồng kế tiếp. Trong quá trình bảo quản nông sản, riêng với côn trùng đã có nhiều loài gây hại và gây ra nhiều tổn thất.

Từ trước đến nay, tổn thất sau thu hoạch luôn là vấn đề được quan tâm trong sản xuất nông nghiệp nhiệt đới. Bởi nguyên nhân chính của “mất mùa trong nhà” là do sâu mọt gây hại nông sản bảo quản trong kho. Mỗi năm trên thế giới mức tổn thất về lương thực trong bảo quản khoảng 5 - 10% (Hodges et al. Ở Việt Nam mức tổn thất sau thu hoạch đối với lúa gạo dao động trong khoảng 11 - 13%, với ngô là 13 - 15% trong đó có khâu bảo quản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009) [2].

Theo tổ chức Hợp phần xử lý sau thu hoạch, ở khu vực đồng bằng sông Hồng và các khu vực khác mức tổn thất đối với lúa là 11,6% còn với ngô là 18 - 19%, riêng ở vùng ĐBSCL, mức tổn thất lúa là 13,7% tổng sản lượng [3]. Sản lượng lương thực như lúa, gạo, ngô, đậu, v. của tỉnh Đồng góp phần không nhỏ khi ĐBSCL hiện nay là vùng sản xuất lương thực có hạt lớn nhất cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017) [4]. Bên cạnh đó do phương cách bảo quản, nông sản thường bị côn trùng phá hoại dẫn đến thiệt hại lớn và ảnh hưởng tới việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Để giảm thiểu những tổn thất trong bảo quản nông sản, hiện nay ở Việt Nam, biện pháp chủ yếu được sử dụng là thuốc xông hơi như Phosphine diệt sâu mọt hại nông sản (Hoàng Trung và cs. Thực tế, biện pháp này không thể tiêu diệt hoàn toàn những loài sâu mọt gây hại chính, mà lại có thể làm phát sinh tính kháng thuốc của chúng. Bên cạnh đó, các hóa chất độc hại vừa tiêu diệt côn trùng có ích, vừa để dư lượng hóa chất trong nông sản, không an toàn với môi trường và đe dọa sức khỏe người tiêu dùng. Trên thế giới, biện pháp sử dụng kẻ thù tự nhiên để kiểm soát sâu mọt là trọng tâm của chiến lược bảo vệ nông sản an toàn.

Ở các nước phát triển đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các loài ký sinh thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) như là 2 tác nhân kiểm soát sâu mọt thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gây hại nông sản bảo quản trong kho. Ví dụ, một số công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng loài ong Anisopteromalus calandrae (Howard) (Kraaz et al., 2008) [6] hay loài Lariophagus distinguendus (Forster) (Steidle et al., 2001 [7] và Niedermayer et al., 2016) [8] là một trong những tác nhân chính trong kiểm soát nhiều loài mọt thuộc bộ Cánh cứng như Sitophilus oryzae (Linnaeus), Sitophilus zeamais Motsch. gây hại nông sản trong kho. Hiện nay ở Việt Nam nói chung cũng như tỉnh Đồng Tháp và vùng ĐBSCL nói riêng, việc sử dụng ong ký sinh mới nghiên cứu và phát triển ứng dụng phòng chống sâu hại trên đồng ruộng.

Đối với phòng chống sâu hại nông sản trong kho bằng kẻ thù tự nhiên còn hạn chế, chỉ có một vài thông báo khoa học. Riêng với giống ong ký sinh Anisopteromalus ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố. Để có cơ sở khoa học cho việc hướng tới sử dụng loài thiên địch như ong ký sinh phòng chống sâu hại nông sản trong kho ở Việt Nam, từ 2015, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Anisopteromalus calandrae (Howard) ký sinh mọt Cánh cứng hại trong kho tại tỉnh Đồng Tháp”. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  Ý nghĩa khoa học - Cung cấp các dẫn liệu về thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho tại tỉnh Đồng Tháp.

- Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học, một số tập tính ký sinh và đặc điểm sinh thái của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae (*) với vật chủ sâu non mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne). - Cung cấp những dẫn liệu khoa học về khả năng khống chế mọt ngô (Sitophilus zeamais) trên hạt đậu trắng và mọt thuốc lá (L. serricorne) trên thức ăn nuôi cá của ong ký sinh A.  Ý nghĩa thực tiễn - Việc đánh giá mức độ phổ biến của một số loài thiên địch giúp người dân và những người làm công tác quản lý kho điều tra, phát hiện nhanh và chính xác sự 3 hiện diện của chúng.

Từ đó sử dụng biện pháp phòng trừ phù hợp nhằm không gây ảnh hưởng những loài có ích trong kho tàng. - Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và khả năng khống chế sâu mọt trong kho của ong ký sinh A. calandrae là cơ sở khoa học để sử dụng loài ong ký sinh này trong phòng chống sâu mọt hại nông sản, thức ăn chăn nuôi trong kho bảo quản tại tỉnh Đồng Tháp nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong kho tại tỉnh Đồng Tháp.

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong ký sinh A. - Đánh giá được khả năng khống chế mọt ngô (S. zeamais) và mọt thuốc lá (L. serricorne) của ong ký sinh A.

calandrae trong điều kiện phòng thí nghiệm. Những đóng góp mới của luận án - Lần đầu tiên cung cấp dẫn liệu về đặc điểm sinh học, tập tính, đặc điểm sinh thái của loài ong ký sinh A. calandrae với vật chủ sâu non mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) trên hạt thức ăn nuôi cá ở Việt Nam. - Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về khả năng khống chế mọt ngô (Sitophilus zeamais) trên hạt đậu trắng và mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) trên thức ăn nuôi cá của ong ký sinh A.

calandrae trong điều kiện phòng thí nghiệm. Theo tên gọi Việt Nam một số tác giả thường gọi là ong ngoại ký sinh để phân biệt với các loài ong nội ký sinh (ong đẻ trứng ký sinh bên trong cơ thể vật chủ - ký sinh trong). Tuy nhiên xuất phát từ Tiếng Anh “Parasitoid” chúng tôi thống nhất sử dụng cụm từ “ong ký sinh” đối với loài A. calandrae trong toàn văn luận án.

4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hầu như ở đâu có dự trữ và bảo quản nông sản, hàng hóa thì ở đó xuất hiện các loài sinh vật gây hại. Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã phát triển thành quần thể có số lượng lớn và gây ra những vụ cháy ngầm, tiêu hủy một phần hoặc hoàn toàn nông sản bảo quản trong kho (Bùi Công Hiển, 1995) [9]. Sự phá hại của côn trùng đối với nông sản bảo quản trước hết phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá hủy làm cho nông sản bảo quản bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng (Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ, 2003) [10].

Trong nhiều trường hợp, thiệt hại có thể rất lớn và thậm chí là vô giá. Trên thế giới, nhiều nước đã quan tâm nghiên cứu sử dụng côn trùng ký sinh để kiểm soát sâu hại nông sản trong kho. Một trong những loài ong ký sinh được một số tác giả nghiên cứu là Anisopteromalus calandrae (Howard). Các kết quả nghiên cứu này đã đề cập đến đặc điểm sinh học, sinh thái học của ong ký sinh A.

calandrae trên một số loài mọt Cánh cứng hại nông sản bảo quản trong kho. Đồng Tháp là một trong những tỉnh thuộc ĐBSCL với nhiều kho bảo quản, dự trữ các loại nông sản như lúa, gạo, ngô, đậu, v. Hệ thống kho và chủng loại nông sản bảo quản của tỉnh Đồng Tháp đa dạng và phong phú là điều kiện thuận lợi cho sự lây lan và phát triển nhiều loài côn trùng gây hại. Kết quả điều tra của Nguyễn Thị Oanh và cs.

Tuy nhiên hiện nay, ở Việt Nam nói chung hay ở Đồng Tháp nói riêng chủ yếu sử dụng thuốc hóa học độc hại để phòng trừ, việc nghiên cứu côn trùng ký sinh các loài sâu hại trong kho bảo quản nông sản lại chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Do vậy, để hòa nhập với xu thế phát triển trên thế giới và đáp ứng thực tiễn của địa phương, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài ong ký sinh A. calandrae là cơ sở khoa học cho việc áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học. Mục đích nghiên cứu là hướng tới sử dụng thiên địch trong phòng trừ sâu hại nhằm đem lại nông sản an toàn cho người và động vật sử dụng.

Những nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu thành phần loài thiên địch của côn trùng trong kho Ở nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về thành phần loài thiên địch của côn trùng gây hại nông sản bảo quản trong kho. Chẳng hạn ở Hawaii, Lebeck (1991) đã thống kê có 22 loài thiên địch, trong đó có 2 loài bắt mồi thuộc họ Ampulicidae và 20 loài ong ký sinh thuộc họ Evaniidae (8 loài), Pteromalidae (1 loài), Eupelmidae (3 loài), Encyrtidae (1 loài) và Eulophidae (7 loài) [12]. Kết quả nghiên cứu tại Frankfort (Mỹ), Sedlacek et al.

Nhóm tác giả cũng đã đánh giá loài ong ký sinh A. calandrae chiếm tỷ lệ bắt gặp cao (41,7%) trong tổng số các loài ghi nhận được. Với sự có mặt của loài A. calandrae trong 9 loài ong ký sinh thuộc 4 họ (Encyrtidae, Eulophidae, Bethylidae và Pteromalidae) cũng được Helbig (1998) công bố khi nghiên cứu các loài ong ký sinh sâu mọt trên các cửa hàng ngô tại miền Nam châu Phi.

Nghiên cứu, thu thập trong 3 mùa (1988 - 1990) tại các địa điểm khác nhau, tác giả nhận thấy 2 loài ong ký sinh A. calandrae và Theocolax elegans (Westwood) bắt gặp thường xuyên hơn so với các loài còn lại [14]. Eliopoulos et al. (2002) lần đầu tiên tại Hy Lạp đã công bố 16 loài ong ký sinh sâu mọt trong kho thuộc 5 họ.

Kết quả ghi nhận, họ Pteromalidae có 6 loài (gồm cả loài A. calandrae), họ Bethylidae có 6 loài, họ Braconidae có 2 loài, họ Ichneumonidae và Trichogrammatidae mỗi họ có 1 loài. Nghiên cứu này được tiến hành trên ngũ cốc, bột, đậu, thuốc lá và quả khô bảo quản với số lượng khác nhau tại các cơ sở lưu trữ và cửa hàng gia đình. Tỷ lệ ong ký sinh bắt gặp cao nhất trong kho bảo quản quả khô, thuốc lá và bột.

Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đánh giá độ bắt gặp các loài giảm dần theo tứ tự: ong A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của ong Anisopteromalus calandrae ký sinh mọt cánh cứng hại kho tại Đồng Tháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học và sinh thái của loài ong ký sinh này, một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát các loài mọt gây hại trong kho. Nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh trưởng và phát triển của ong Anisopteromalus calandrae mà còn chỉ ra vai trò của chúng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ nông sản. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những người làm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật.

Để mở rộng kiến thức về các loài sinh vật có ích khác trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm sinh học sinh thái nhện bắt mồi amblyseius swirskii, nơi nghiên cứu về nhện bắt mồi và vai trò của chúng trong việc kiểm soát sâu bệnh. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu nhân nuôi và sử dụng bọ xít bắt mồi nesidiocoris tenuis cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp sinh học trong phòng chống sâu hại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Khóa luận tốt nghiệp đánh giá tính mẫn cảm của nhện bắt mồi họ phytoseiidae, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa các loài nhện và thuốc bảo vệ thực vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sinh vật có ích trong nông nghiệp.