Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 62.01) của tác giả Nguyễn Hữu Tấn, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng năm 2021 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Đình Khôi Nguyên và GS.TS. Trương Bá Thanh, mang tiêu đề: "Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Đài Phát thanh truyền hình cấp tỉnh tại Việt Nam".
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam, đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ Nghị định 43/2006/NĐ-CP sang Nghị định 16/2015/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Các Đài Phát thanh – Truyền hình (PT-TH) cấp tỉnh trực thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoạt động với tư cách là cơ quan báo chí của Đảng bộ, chính quyền địa phương, đồng thời là đơn vị sự nghiệp công lập có thu được giao quyền tự chủ một phần. Trong quá trình vận hành, bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị tuyên truyền, nhiều sai phạm thực tế đã phát sinh như: mua sắm tài sản cố định; chi tiêu sai quy định so với Quy chế chi tiêu nội bộ; vi phạm quy trình, thủ tục nghiệp vụ; các bất cập trong công tác bổ nhiệm nhân sự. Tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân của các tồn tại này xuất phát từ sự thiếu hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB). Khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc các công trình học thuật trên thế giới chưa tổng kết có hệ thống về KSNB trong lĩnh vực PT-TH, trong khi tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu KSNB trong ngành PT-TH và các nghiên cứu KSNB công lập trước đó còn thiếu vắng mô hình định lượng liên kết các thành phần kiểm soát với mục tiêu kiểm soát.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là thông qua mô hình khung lý thuyết về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB để đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam, qua đó đề xuất các khuyến nghị nâng cao năng lực quản trị trong bối cảnh đổi mới cơ chế hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập.
Mục tiêu cụ thể gồm:
- Phát triển và xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các Đài PT-TH cấp tỉnh, thành phố tại Việt Nam.
- Đo lường và đánh giá các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của KSNB các Đài PT-TH cấp tỉnh, thành phố tại Việt Nam theo ba mục tiêu kiểm soát cụ thể: mục tiêu tuân thủ, mục tiêu hoạt động và mục tiêu tin cậy của báo cáo quyết toán.
- Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hệ thống KSNB các Đài PT-TH cấp tỉnh, thành phố tại Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được xác định gồm:
- Câu hỏi 1: Những nhân tố nào là phù hợp, cấu thành nên các thành phần của hệ thống KSNB và ảnh hưởng đến thực hiện các mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Những chỉ tiêu nào là phù hợp để đo lường hợp lý các thành phần của hệ thống KSNB cũng như mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam? Mức độ ảnh hưởng của các thành phần hệ thống KSNB đến mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam như thế nào?
- Câu hỏi 3: Các kết quả nghiên cứu đã gợi ra những hàm ý chính sách quan trọng nào để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu là công tác KSNB tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam. Phạm vi không gian bao gồm 63 Đài PT-TH cấp tỉnh trên phạm vi toàn quốc. Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập dữ liệu là giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, gắn liền với giai đoạn chuyển giao thể chế tài chính công từ Nghị định 43/2006/NĐ-CP sang Nghị định 16/2015/NĐ-CP.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án đã tổng hợp các hướng nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ở cả khu vực tư và khu vực công:
Ở khu vực tư, nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng thương mại dựa trên nền tảng khung BASEL hoặc COSO bao gồm các công trình của Sultana và Haque (2011), William và Kwasi (2003), Karagiorgos và cộng sự (2012), Gamage và cộng sự (2014), Olatunji (2009), Charles (2011), Salehi và cộng sự (2013), Ayagre (2014). Ở khối doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có các nghiên cứu của Joseph và cộng sự (2012) tại Ghana dựa trên mô hình đánh giá của Ernst & Young (2003); Dennis (2013); Ofori (2011) tại các công ty bưu điện Ghana; Noorvee (2006) tại Estonia với 3 doanh nghiệp sản xuất; Oseifuah và Gyekye (2013) tại Nam Phi kiểm định mối liên hệ KSNB theo quy mô doanh nghiệp. Các nghiên cứu liên kết KSNB với hiệu quả hoạt động tài chính (đo lường qua ROA, ROE, lợi nhuận, khả năng thanh khoản) gồm Muraleetharan (2011) tại Sri Lanka và Nyakundi và cộng sự (2014) tại Kenya. Các nghiên cứu xem xét đồng thời cả ba mục tiêu kiểm soát gồm Jokipii (2006) tại Phần Lan áp dụng mô hình SEM phân tích ảnh hưởng của ngữ cảnh đến cấu trúc KSNB; Stefan (2016) tại Thụy Sĩ áp dụng PLS-SEM theo các hướng tiếp cận mục tiêu, hệ thống và quá trình.
Ở khu vực công, các công trình tập trung vào hai nhóm đơn vị chính: trường đại học công lập qua nghiên cứu của Mawanda (2008), Sharah (2011), Lemi và Kebede (2013), Adagye (2015), Tsedal (2015), Ayam (2015); các bộ, ngành chính phủ qua nghiên cứu của Yogendrarajah (2006), Aziz (2015), Ghneimat và Seyam (2011), Owizy (2014), Amudo (2009), Babatunde và Dandago (2014).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu KSNB ban đầu chủ yếu theo phương pháp nghiên cứu tình huống: Luận án của Phạm Bính Ngọ (2011) nghiên cứu các đơn vị dự toán thuộc Bộ Quốc phòng; Luận án của Nguyễn Thu Hoài (2011) nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam; Luận án của Bùi Thị Minh Hải (2012) nghiên cứu các doanh nghiệp may mặc Việt Nam. Một số luận án tiếp cận theo hướng định lượng gần đây gồm: Hồ Tuấn Vũ (2016) nghiên cứu các ngân hàng thương mại Việt Nam; Võ Thu Phụng (2016) nghiên cứu các nhân tố cấu thành KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Bảng tổng hợp cách tiếp cận đánh giá tính hữu hiệu KSNB ở các nước được tác giả trích dẫn như sau:
| Tác giả |
Quốc gia |
Cỡ mẫu |
Dữ liệu |
Phương pháp thống kê |
Thành phần KSNB |
Mục tiêu hoạt động |
Mục tiêu BCTC |
Mục tiêu tuân thủ |
| Stefan (2016) |
Thụy Sĩ |
1.537 |
Bảng câu hỏi |
SEM |
Ngoài 5 TP COSO |
Có |
Có |
Có |
| Jokipii (2006) |
Phần Lan |
741 |
Bảng câu hỏi |
SEM |
5 TP COSO |
Có |
Có |
Có |
| Ofori (2011) |
Ghana |
50 |
Bảng câu hỏi |
Thống kê mô tả |
5 TP COSO |
Có |
Có |
Có |
| Muraleetharan (2011) |
Sri Lanka |
Chưa nêu |
BCH & BCTC |
Hồi quy |
5 TP COSO |
Có |
Không |
Không |
| Nyakundi và cs (2014) |
Kenya |
Chưa nêu |
BCH & BCTC |
Thống kê mô tả |
5 TP COSO |
Có |
Không |
Không |
| Noorvee (2006) |
Estonia |
3 |
Bảng câu hỏi |
Chi bình phương, t-test |
5 TP COSO |
Không |
Không |
Không |
| Joseph và cs (2012) |
Ghana |
33 |
Báo cáo thường niên |
Thống kê mô tả |
5 TP COSO |
Không |
Không |
Không |
| Oseifuah & Gyekye (2013) |
Nam Phi |
Chưa nêu |
Bảng câu hỏi |
Chi bình phương, t-test |
5 TP COSO |
Không |
Không |
Không |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm:
- Thứ nhất, phần lớn nghiên cứu trước đây chỉ thực hiện khi phát sinh bê bối tài chính hoặc tập trung vào khu vực doanh nghiệp, chưa cảnh báo và đánh giá nguy cơ tiềm tàng trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình công lập.
- Thứ hai, nhiều nghiên cứu dừng lại ở việc xem xét sự tồn tại của năm thành phần kiểm soát mà chưa liên kết trực tiếp với việc đạt được các mục tiêu kiểm soát bằng mô hình kinh tế lượng.
- Thứ ba, các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu đo lường mục tiêu hoạt động qua các chỉ số tài chính (ROA, ROE) mà bỏ qua mục tiêu tin cậy của báo cáo tài chính/báo cáo quyết toán và mục tiêu tuân thủ, hoặc thiếu vắng các chỉ tiêu đo lường phi tài chính thích hợp cho khu vực công.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên bốn lý thuyết nền tảng trong quản trị và tổ chức:
- Lý thuyết ngữ cảnh (Contingency theory): Bắt nguồn từ Woodward (1958) và phát triển bởi Burns và Stalker (1961), Lawrence và Lorsch (1967), Penning (1992), Van và cộng sự (1980), Khandwalla (1977). Lý thuyết chỉ rõ không có mô hình kiểm soát duy nhất phù hợp cho mọi tổ chức; thiết kế KSNB phụ thuộc vào quy mô, công nghệ, môi trường bên ngoài và văn hóa tổ chức (Fish, 1998; Bowrin, 2004; Jokipii, 2006). Đối với Đài PT-TH cấp tỉnh, cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP tạo ra ngữ cảnh quản lý đặc thù.
- Lý thuyết đại diện (Agency theory): Do Jensen và Meckling (1976) khởi xướng, được Adam (1994), Maijoor (2000), Mohammad (2013), Dumitru và cộng sự (2016) vận dụng vào kiểm soát. Người đứng đầu đơn vị công lập đóng vai trò bên đại diện thay mặt Nhà nước (bên ủy nhiệm) quản lý tài sản công và kinh phí hoạt động; KSNB là công cụ kiểm soát nhằm giảm thiểu chi phí đại diện và ngăn ngừa nguy cơ lãng phí, thất thoát.
- Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder theory): Khởi xướng bởi Freeman (1984), mở rộng bởi Duckworth và cộng sự (2010), Xiao và cộng sự (2018), Neaves (2002). Hệ thống KSNB tại Đài PT-TH phải đáp ứng trách nhiệm giải trình và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhiều bên: cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, người dân và tập thể người lao động tại đơn vị.
- Lý thuyết Chaos: Do Edward Norton Lorenz phát hiện năm 1961 (Sanders, 1998; Gleick, 1987). Trong kiểm soát, lý thuyết Chaos vận dụng nguyên lý đệ quy để giải thích rằng các sai phạm nhỏ nhất trong quy trình nếu không được phát hiện kịp thời sẽ gây ra hệ quả sai lệch lớn đối với toàn bộ mục tiêu của tổ chức.
Về khung khái niệm, luận án tổng kết hai dòng quan điểm: KSNB là một quá trình (King, 2011; Abbas và Iqbal, 2012; COSO, 1992, 2013; INTOSAI GOV 9100; Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 315) và KSNB là một cấu trúc (DiNapoli, 2007; Lakis và Girnjnas, 2012; Pfister, 2009; Shim, 2011; AICPA, 1949; Alvin Arens và cộng sự, 2000; IFAC). Về tính hữu hiệu, luận án kế thừa quan điểm của COSO (2013) và INTOSAI GOV 9100: một hệ thống KSNB hữu hiệu khi năm thành phần cùng tồn tại, vận hành và đảm bảo một cách hợp lý các mục tiêu kiểm soát đạt được.
Sự khác biệt giữa khung COSO (2013) và INTOSAI GOV 9100 được tác giả tổng hợp qua các mục tiêu kiểm soát:
| COSO 2013 |
INTOSAI GOV 9100 |
| Tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động |
Tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động |
| Báo cáo cho người bên trong và người bên ngoài, đảm bảo tính tin cậy, kịp thời, minh bạch |
Thực hiện được trách nhiệm giải trình |
| Tuân thủ theo các quy định pháp luật |
Tuân thủ theo các quy định pháp luật |
| (Không nêu riêng mục tiêu này) |
Bảo vệ tài sản để không thua lỗ, không đưa vào sử dụng và không bị hư hỏng |
Phương pháp nghiên cứu thực tế là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Phân tích hệ thống văn bản pháp luật về cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập và Đài PT-TH; tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia gồm Giám đốc, Phó Giám đốc và Kế toán trưởng của các Đài PT-TH đại diện ba miền Bắc, Trung, Nam nhằm xây dựng bộ đo lường chỉ mục. Phỏng vấn sâu chuyên gia lần hai được thực hiện sau khi có kết quả định lượng để thảo luận, giải thích bản chất kết quả thống kê.
- Nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp 6 nhóm đối tượng tại 63 Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam: (1) Giám đốc, (2) Phó Giám đốc nội dung, (3) Phó Giám đốc kỹ thuật, (4) Trưởng/Phó phòng Kế toán, (5) Trưởng/Phó phòng Tổ chức hành chính, (6) Trưởng/Phó phòng Kỹ thuật công nghệ. Dữ liệu được xử lý qua kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, kiểm định t-test và phân tích hồi quy bội.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần mở đầu thiết lập cơ sở khoa học của đề tài, luận giải tính cấp thiết gắn với bối cảnh chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Tác giả công bố hệ thống 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng nghiên cứu là công tác KSNB tại 63 Đài PT-TH cấp tỉnh giai đoạn 2014-2018. Khung nghiên cứu của luận án được khái quát hóa, khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc xây dựng khung lý thuyết KSNB cho đơn vị sự nghiệp công lập và ý nghĩa thực tiễn thông qua việc cung cấp bộ chỉ mục đo lường và mô hình tác động cho lãnh đạo các Đài PT-TH.
Chương 1: Cơ sở lý luận về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa về KSNB (theo cách tiếp cận quá trình và cấu trúc), các mô hình khung KSNB quốc tế (COSO 1992, COSO 2013 với 5 thành phần, 17 nguyên tắc và 82 tiêu điểm; INTOSAI GOV 9100 dành cho khu vực công). Tác giả so sánh chi tiết giữa COSO 2013 và INTOSAI GOV 9100 ở cả góc độ mục tiêu và các thành phần kiểm soát. Tiếp đó, chương phân tích tính hữu hiệu của KSNB theo hai hướng tiếp cận định tính (sử dụng checklist, flowcharts dựa trên 82 tiêu điểm COSO) và định lượng (khảo sát số lớn bằng thang đo Likert). Chương làm rõ bốn lý thuyết nền tảng (lý thuyết ngữ cảnh, lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên có liên quan, lý thuyết Chaos), điểm lại các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, từ đó xác lập khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho mô hình phân tích.
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 2 phân tích đặc điểm cơ cấu tổ chức, phân cấp quản lý, cơ chế kiểm tra giám sát đặc thù tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu và phát triển hệ thống các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành phần KSNB với các mục tiêu kiểm soát. Quy trình thiết kế bộ đo lường được chuẩn hóa qua các bước từ xây dựng thang đo nháp, lấy ý kiến chuyên gia định tính đến hoàn thiện bảng khảo sát chính thức. Phương pháp chọn mẫu điều tra toàn bộ 63 Đài PT-TH cấp tỉnh và kỹ thuật phát phiếu phỏng vấn trực tiếp cho 6 nhóm chức danh quản lý được thiết lập cụ thể, đi kèm quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm thống kê.
Chương 3: Đo lường các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ
Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu định tính hình thành bộ đo lường chính thức gồm các bảng chỉ mục cho 5 thành phần KSNB: Môi trường kiểm soát (Bảng 3.1), Đánh giá rủi ro (Bảng 3.2), Hoạt động kiểm soát (Bảng 3.3), Thông tin và truyền thông (Bảng 3.4), Giám sát (Bảng 3.5) và Mục tiêu kiểm soát (Bảng 3.6). Kết quả phân tích độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) qua các lần phân tích 1 và 2 được thể hiện từ Bảng 3.7 đến Bảng 3.17, loại bỏ các chỉ mục không đạt yêu cầu. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 3.18 và Bảng 3.19) đã tái cấu trúc các biến quan sát thành mô hình phân tích điều chỉnh (Hình 3.1), trong đó các thành phần kiểm soát được gom nhóm lại cho phù hợp với dữ liệu thực tế tại các Đài PT-TH cấp tỉnh.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả đặc trưng KSNB tại các Đài PT-TH: môi trường kiểm soát (Bảng 4.1), đánh giá rủi ro (Bảng 4.2), thông tin và giám sát (Bảng 4.3), hoạt động kiểm soát (Bảng 4.4), mức độ các thủ tục kiểm soát (Bảng 4.5), mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chính trị (Bảng 4.6), mục tiêu hiệu quả tài chính (Bảng 4.7) và mục tiêu tính tin cậy của BCQT (Bảng 4.8). Sau khi phân tích ma trận tương quan (Bảng 4.9), tác giả ước lượng ba phương trình hồi quy bội ứng với ba biến phụ thuộc:
- Hồi quy với biến phụ thuộc Mục tiêu chính trị (Bảng 4.10).
- Hồi quy với biến phụ thuộc Hiệu quả tài chính (Bảng 4.11).
- Hồi quy với biến phụ thuộc Tính tin cậy của Báo cáo quyết toán (Bảng 4.12).
Kết quả tổng hợp giả thuyết nghiên cứu (Bảng 4.13) và hệ số hồi quy chuẩn hóa (Bảng 4.14) cho thấy có ba nhân tố có ý nghĩa tác động gồm: Truyền thông giám sát, Hoạt động kiểm soát và Môi trường kiểm soát đến các mục tiêu kiểm soát của Đài. Kết quả được bàn luận sâu sắc qua đối thoại với các chuyên gia ngành truyền hình.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tóm lược các kết quả chính về đo lường mục tiêu kiểm soát, mức độ hữu hiệu của hệ thống KSNB và mức độ tác động của từng thành phần KSNB. Dựa trên bằng chứng định lượng, tác giả đưa ra hai nhóm khuyến nghị chính: (1) Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mục tiêu hoạt động phù hợp với tính chất đơn vị truyền thông công lập; (2) Kiện toàn hệ thống KSNB thông qua hoàn thiện môi trường kiểm soát, củng cố thủ tục hoạt động kiểm soát và thiết lập kênh truyền thông giám sát hiệu quả. Cuối chương, tác giả nêu rõ những hạn chế của nghiên cứu và xác định định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng (lý thuyết ngữ cảnh, lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên có liên quan, lý thuyết Chaos) trong việc vận hành hệ thống KSNB hữu hiệu tại khu vực công. Luận án đã phác họa khung lý thuyết KSNB đặc thù cho các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam trong bối cảnh Nhà nước giao quyền tự chủ ngày càng sâu rộng nhưng vẫn buộc phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chính trị tuyên truyền.
Về mặt thực tiễn, luận án đạt được các đóng góp sau:
- Xây dựng và kiểm định thành công bộ thang đo chính thức để đo lường các thành phần thuộc hệ thống KSNB và các mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh tại Việt Nam. Bộ đo lường này cung cấp công cụ thực tế cho các nghiên cứu kế tiếp trong khu vực sự nghiệp công lập.
- Xây dựng mô hình thực nghiệm xác định mối quan hệ giữa các thành phần KSNB đặc thù và các mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh.
- Xác định được ba nhân tố có ý nghĩa tác động thống kê đến việc thực hiện mục tiêu kiểm soát là: Truyền thông giám sát, Hoạt động kiểm soát và Môi trường kiểm soát. Ba nhân tố này tác động trực tiếp và đáng kể đến ba khía cạnh mục tiêu: mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chính trị, mục tiêu hiệu quả tài chính và mục tiêu tính tin cậy của báo cáo quyết toán.
Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất:
- Nhóm kiến nghị xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mục tiêu hoạt động: Thiết lập các chỉ tiêu cụ thể kết hợp giữa đo lường việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính tự chủ tại các Đài.
- Nhóm kiến nghị kiện toàn hệ thống KSNB: Nâng cao năng lực và nhận thức kiểm soát của ban giám đốc (môi trường kiểm soát), rà soát ban hành chuẩn hóa các thủ tục kiểm soát nghiệp vụ (hoạt động kiểm soát), và tổ chức cơ chế trao đổi thông tin gắn liền với kiểm tra, giám sát thường xuyên (truyền thông giám sát) nhằm hạn chế các sai phạm trong quản lý tài chính và tài sản công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án chỉ ra các hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại 63 Đài PT-TH cấp tỉnh trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, phản ánh thực trạng KSNB trong thời kỳ giao thời giữa hai cơ chế quản lý tài chính (Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP). Bối cảnh cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập liên tục có sự điều chỉnh và đổi mới trong các năm tiếp theo, do đó một số điều kiện quản trị có thể thay đổi.
- Nghiên cứu tập trung duy nhất vào loại hình Đài PT-TH cấp tỉnh – một phân khúc mang tính đặc thù cao về chính trị, nghiệp vụ báo chí và cơ cấu tổ chức trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chưa bao quát sang các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực khác.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:
- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện bộ đo lường tính hữu hiệu của KSNB để thích ứng với các văn bản quy định pháp luật mới nhất về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu hoặc tiến hành các khảo sát so sánh KSNB giữa ngành phát thanh – truyền hình với các đơn vị sự nghiệp công lập khác có mức độ tự chủ tương đồng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Quản lý công: Tham khảo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia hai vòng với phân tích hồi quy bội; tham khảo khung đo lường INTOSAI GOV 9100 áp dụng vào thực tế đơn vị công lập.
- Lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các Đài PT-TH cấp tỉnh (Ban Giám đốc, Trưởng/Phó các phòng Kế toán, Tổ chức hành chính, Kỹ thuật): Tham khảo trực tiếp bộ tiêu chí đo lường tại Chương 3 và kết quả đánh giá thực trạng các thủ tục kiểm soát tại Chương 4 để tự đánh giá khiếm khuyết trong hệ thống kiểm soát của đơn vị mình.
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài chính): Tham khảo cơ sở thực tiễn để ban hành các quy chế quản lý, giám sát tài chính và định mức hoạt động phù hợp cho các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình địa phương trong tiến trình thực hiện quyền tự chủ.
Câu hỏi thường gặp
Luận án lựa chọn khung lý thuyết nào làm nền tảng chính để đánh giá KSNB tại các Đài PT-TH cấp tỉnh?
Tác giả sử dụng kết hợp khung lý thuyết COSO (2013) và khung hướng dẫn tiêu chuẩn KSNB cho khu vực công INTOSAI GOV 9100. Trong đó, INTOSAI GOV 9100 đóng vai trò định hướng chính do phản ánh các đặc thù của khu vực công như nhấn mạnh trách nhiệm giải trình và mục tiêu bảo vệ tài sản công.
Biến phụ thuộc - mục tiêu kiểm soát của hệ thống KSNB tại các Đài PT-TH được đo lường qua những khía cạnh nào?
Khác với các nghiên cứu khu vực tư chỉ đo lường chỉ tiêu tài chính, luận án đo lường mục tiêu kiểm soát tại các Đài PT-TH cấp tỉnh qua ba khía cạnh cụ thể: (1) Mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chính trị; (2) Mục tiêu hiệu quả tài chính; (3) Mục tiêu tính tin cậy của Báo cáo quyết toán (BCQT).
Những nhân tố nào của hệ thống KSNB có tác động có ý nghĩa thống kê đến mục tiêu kiểm soát của các Đài PT-TH?
Kết quả phân tích hồi quy bội trong luận án xác định ba nhân tố có ý nghĩa tác động gồm: Truyền thông giám sát, Hoạt động kiểm soát và Môi trường kiểm soát. Ba nhân tố này chi phối trực tiếp đến mức độ đạt được nhiệm vụ chính trị, hiệu quả tài chính và độ tin cậy của báo cáo quyết toán.
Dữ liệu khảo sát định lượng được thu thập từ những đối tượng cụ thể nào?
Dữ liệu được thu thập trực tiếp tại 63 Đài PT-TH cấp tỉnh trên cả nước từ 6 nhóm đối tượng: Giám đốc Đài, Phó Giám đốc phụ trách nội dung, Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật, Trưởng/Phó phòng Kế toán, Trưởng/Phó phòng Tổ chức hành chính, và Trưởng/Phó phòng Kỹ thuật công nghệ.
Giai đoạn thời gian nghiên cứu của luận án gắn liền với bối cảnh chuyển đổi thể chế nào?
Phạm vi thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2014-2018. Đây là thời kỳ đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam trải qua bước chuyển đổi thể chế quan trọng từ cơ chế tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP sang cơ chế tự chủ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Tấn đã giải quyết trọn vẹn vấn đề đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại 63 Đài Phát thanh – Truyền hình cấp tỉnh tại Việt Nam giai đoạn 2014-2018. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên nền tảng lý thuyết ngữ cảnh, lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan và khung INTOSAI GOV 9100, tác giả đã xây dựng bộ chỉ mục đo lường chuẩn hóa và mô hình hồi quy xác định ảnh hưởng của ba nhân tố: Truyền thông giám sát, Hoạt động kiểm soát và Môi trường kiểm soát đến các mục tiêu kiểm soát. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất cung cấp căn cứ thực tiễn giúp lãnh đạo các Đài PT-TH kiện toàn bộ máy quản trị nội bộ trong bối cảnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính công.