Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Cơ sở khoa học - Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Kết luận và Kiến nghị Nội dung phụ trợ gồm các phần: - Danh mục tài liệu tham khảo Một số khái niệm được sử dụng trong luận văn: (i) Nhóm khái niệm về Đại dương và Biển đảo [6]: - Đại dương thế giới: là một không gian nước liên tục của nước đại dương và biển lưu thông với nhau nhờ các eo biển. - Đại dương: là một phần lớn hơn cả của Đại dương thế giới, được giới hạn bởi các lục địa. - Biển: là một phần của đại dương nhiều hay ít được giới hạn bởi các bờ của lục địa, các hải đảo và bởi những chỗ đất nhô cao của địa hình dưới nước. - Đảo: là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
5 Michel Coltman đưa ra khái niệm: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Hoạt động du lịch được cấu thành bởi các nhân tố: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khác du lịch” [4]. - Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch hiểu một cách chung nhất: “là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khác du lịch”. Sản phẩm du lịch gồm hai bộ phận: Dịch vụ di lịch và Tài nguyên du lịch [24]. Theo giải thích trong Luật du lịch 2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”; và “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [13].
- Tài nguyên du lịch (TNDL): TNDL là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo ra và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường [4]. Luật du lịch 2005 cũng giải thích: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [13]. TNDL bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể. Trong cuốn “Tài nguyên du lịch” [3] phân chia thành các nhóm: (1) TNDL tự nhiên: là các yếu tố tự nhiên có thể khai thác phục vụ cho phát triển du lịch.
(2) TNDL nhân văn: là tài nguyên có nguồn gốc do con người tạo ra, có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch. (3) Tài nguyên kinh tế - kỹ thuật bổ trợ: gồm các dạng như: Xúc tiến quảng bá du lịch, đường lối chính sách., quy hoạch du lịch, kết cấu hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch,. - Du lịch bền vững: Khái niệm du lịch bền vững được nhắc đến lần đầu tiên năm 1992, tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro. Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người 6 dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai”.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Theo cuốn “Tài nguyên du lịch” [26], các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm: (1) Cơ sở lưu trú, ăn uống: motel, hotel, camping, Bungalow, làng du lịch, biệt thự, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà hàng, nhà có phòng cho thuê, nhà hàng cafeteria, night club, snack bar. ; (2) Các cơ sở vui chơi giải trí: Các công vien giải trí, công viên chủ đề, các sân thể thao, sân vận động, các thiết bị vui chơi giải trí; (3) Các phương tiện vận tải: dùng để chuyên chở khách du lịch như máy bay, ô tô, tàu thủy, tàu hỏa,. (iii) Nhóm khái niệm về Phát triển bền vững: - Phát triển bền vững (PTBV): “PTBV là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ” [26] - Khái niệm của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commision on Environment and Development) thuộc Liên Hợp Quốc đã công bố năm 1987; “ PTBV là sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ sinh thái” [27] – định nghĩa tại công bố chung của ba tổ chức quốc tế là: IUCN – UNEP –WWI; “Bền vững” theo David A. Munro (nguyên Tổng giám đốc IUCN, Giám đốc dự án: “Chăm lo cho trái đất” của ba tổ chức quốc tế là: IUCN – UNEP – WWI; thành viên cao cấp Chương trình môi trường LHQ) bao gồm ba lĩnh vực [12]: * Bền vững sinh thái: bảo tồn các hệ thống trợ giúp cho sự sống và sự đang dạng sinh học sau khi đảm bảo rằng việc sử dụng những nguồn tài nguyên tái tạo được nằm trong phạm vi và khả năng tái tạo của chúng và giảm thiểu sự cạn kiệt của của những nguồn tài nguyên phi tái tạo.
* Bền vững xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa phát triển và những tiêu chuẩn xã hội hiện tại. Những tiêu chuẩn xã hội dựa vào tôn giáo, truyền thống và phong tục, co thể hoặc không thể hệ thống hóa được thành pháp luật. Chúng phải được thực hiện với các quan hệ đạo lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình và các mối quan hệ riêng tư khác, các hệ thống giai cấp và ngôi thứ, thái độ đối với công việc, sự khoan dung và tất cả các khía cạnh thuộc hành vi của nhóm và cá nhân mà động lực thúc đẩy trước tiên không phải là những 7 toan tính kinh tế. Những tiêu chuẩn xã hội có thể vững chắc nếu xét trong một thời hạn ngắn, nhưng về lâu dài phần lớn hầu như chắc chắn là thay đổi.
* Bền vững kinh tế: được quy định bởi tính hữu ích và chi phí đầu vào, chi phí khai thác và chế biến, và nhu cầu đối với sản phẩm. Những hạn chế chủ chốt đối với các quá trình kinh tế là việc sử dụng nguồn tài nguyên không gây hại tới môi trường, không làm suy giảm các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo để chúng tiếp tục cung cấp đầy đủ thêm nữa. Nhu cầu giảm cho phí không được phép phá vỡ những giới hạn này vì chúng có ảnh hưởng lâu dài đến sự bền vững về kinh tế cũng như sinh thái. PTBV được GS.
Nguyễn Văn Huyên khái quát như sau : Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển công bố Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta", trong đó đã chính thức sử dụng thuật ngữ "phát triển bền vững", đưa ra cách nhìn mới về việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu bền. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và PTBV họp tại Rio de Janeiro tháng 6 - 1992 với sự tham gia của 179 quốc gia đã thông qua chiến lược PTBV và khẳng định: “PTBV là phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của họ”. Hội nghị đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự PTBV lấy tên là Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21). Từ Hội nghị này, nội hàm PTBV không ngừng được bổ sung với phương pháp tư duy và cách tiếp cận mới, hệ thống, toàn diện, sâu rộng, có tầm nhìn xa hơn.
PTBV ít nhất bao gồm 3 yếu tố: Kinh tế (thị trường, tăng trưởng, công nghiệp hoá.); Xã hội (nhà nước, xã hội công dân, ý thức cộng đồng, hệ thống giá trị.); Môi trường (khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường). Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và PTBV họp tại Johannesburg, Cộng hoà Nam Phi năm 2002 đã tổng kết hoạt động PTBV 10 năm (Rio+10) và đưa ra những quyết sách về nước, năng lượng, sức khoẻ, nông nghiệp, sự đa dạng sinh thái; tiếp tục tiến hành một số mục tiêu ưu tiên về xoá đói giảm nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [8]. Đặng Thái Hoàng “kiến trúc” được định nghĩa như sau: Kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian – một trong những hoạt động quan trọng nhất – để nhằm thoả mãn những yêu cầu sinh hoạt vật chất và văn hoá tinh thần của con người, để đáp ứng những yêu cầu kinh tế, xã hội, chính trị. Kiến trúc còn là những biểu tượng và mang tính tượng trưng.
… Một mặt, Kiến trúc là không gian mà trong đó con người, sản xuất, ăn ở, giao tiếp, đi lại, học tập, triển khai mọi hoạt động đáp ứng yêu cầu thể chất, văn hoá tinh thần và thẩm mỹ. Nhưng còn mặt thứ hai rất quan trọng: kiến trúc chính là biện pháp tổ chức quá trình sống đó. … Giải phẫu một tác phẩm kiến trúc, ta thấy nó có một loạt các hệ thống, nó bao gồm: (1) Hệ thống không gian, (2) Hệ thống cấu trúc, (3) Hệ thống vỏ bọc, (4) Hệ thống giao thông. Kiến trúc là sản phẩm của con người đạt được qua quá trình đấu tranh với thiên nhiên.
Tuy vậy, mối liên hệ kiến trúc – thiên nhiên cần phải đạt đến sự hài hoà, vì nếu một yếu tố này lấn át làm đổ vỡ yếu tố kia, quy luật cân bằng sinh thái sẽ không còn được đảm bảo… Lịch sử đã chứng minh rằng quá trình chinh phục thiên nhiên cũng là quá trình loài người cố gắng thích ứng với nó. Cũng vì thế, kiến trúc được coi là “một thiên nhiên thứ hai”.