Tổng quan luận án

Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra nhanh chóng, khiến dân số đô thị đứng thứ sáu trong khu vực Đông Á. Tính đến ngày 04/12/2018, cả nước có 819 đô thị (gồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 19 đô thị loại I, 26 đô thị loại II, 46 đô thị loại III, 83 đô thị loại IV và 645 đô thị loại V). Dự báo đến năm 2020, dân số đô thị đạt khoảng 44 triệu người (chiếm 45% dân số cả nước) và đến năm 2025 có khoảng 1.000 đô thị. Mặc dù vậy, hạ tầng kỹ thuật thoát nước và vệ sinh đô thị chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng: mạng lưới cống mới chỉ phục vụ 50–60% dân số ở các thành phố lớn và 30–40% ở các đô thị vừa và nhỏ.

Theo số liệu của Hội Cấp thoát nước Việt Nam năm 2018 và 2019, cả nước chỉ có 37/63 địa phương có nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT) sinh hoạt tập trung và 5 địa phương đang xây dựng; đến cuối năm 2019 mới có 46 nhà máy đi vào hoạt động (năm 2018 có 41 nhà máy với tổng công suất khoảng 950.000 m³/ngày và 28 nhà máy đang xây dựng). Phần lớn các công trình này đang vận hành dưới 50% công suất thiết kế, thậm chí có nhà máy đã xây dựng xong nhưng không có nước thải dẫn về để xử lý. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự bất cập trong lựa chọn công nghệ, khó khăn trong đấu nối thu gom từ hệ thống cống chung, hạn chế về nguồn nhân lực quản lý vận hành, cùng cơ chế tài chính chưa bù đắp được chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M). Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường (10% giá nước sạch theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP) hoặc giá dịch vụ thoát nước theo Nghị định 80/2014/NĐ-CP chưa đủ trang trải chi phí thực tế, khiến hoạt động xử lý phụ thuộc lớn vào ngân sách trợ cấp hàng năm. Khoảng trống nghiên cứu lớn là việc thiếu một bộ tiêu chí khoa học và hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (KT-KT) đồng bộ để đánh giá và định hướng tính bền vững cho các NMXLNT đô thị tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định theo 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự hoạt động bền vững của NMXLNT đô thị.
  2. Xây dựng các chỉ tiêu KT-KT để đảm bảo sự hoạt động bền vững cho NMXLNT đô thị.
  3. Áp dụng các tiêu chí để đánh giá và chỉ tiêu KT-KT để đảm bảo sự bền vững trong hoạt động đối với NMXLNT thành phố Bắc Ninh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý, vận hành và bảo dưỡng (O&M) NMXLNT đô thị.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các NMXLNT đô thị tập trung tại Việt Nam, với địa bàn nghiên cứu và áp dụng thực nghiệm cụ thể tại NMXLNT thành phố Bắc Ninh (vận hành từ năm 2013 bằng nguồn vốn KfW của Cộng hòa Liên bang Đức).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu và báo cáo chuyên môn trong nước và quốc tế liên quan đến đặc trưng nước thải, công nghệ xử lý, thể chế quản lý và tài chính cho ngành thoát nước:

  • Trong nước: Các nghiên cứu của Trần Đức Hạ (2002, 2014) về quản lý nước thải và bùn cặn; nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường (2016) về thành phần và nồng độ chất ô nhiễm theo đặc điểm hệ thống cống; báo cáo của Hội Cấp thoát nước Việt Nam (2015, 2018, 2019) về hiện trạng hệ thống nhà máy và tổ chức doanh nghiệp thoát nước; các phân tích của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2013) về quản lý nước thải đô thị Việt Nam (vốn đầu tư 150 triệu USD/năm, chiếm 0,45% GDP); số liệu vận hành thực tế tại các NMXLNT Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long – Vân Trì, Yên Sở (Hà Nội), Bình Hưng, Bình Hưng Hòa (TP. Hồ Chí Minh), hệ thống hồ sinh học tại Đà Nẵng (Sơn Trà, Phú Lộc, Hòa Cường, Ngũ Hành Sơn), NMXLNT Đà Lạt, Bắc Giang, Sóc Trăng, Hải Dương.
  • Quốc tế: Báo cáo Phát triển Nước Thế giới của UNESCO (World Water Development Report, 2012) chỉ ra chỉ 20% nước thải toàn cầu được xử lý thích hợp; nghiên cứu của Sato và cộng sự (2013) về mối liên hệ giữa thu nhập quốc gia và tỷ lệ xử lý nước thải; Báo cáo Chỉ số Hiệu quả Môi trường (EPI, 2014) của Đại học Yale xếp Trung Quốc thứ 67/178 quốc gia về xử lý nước thải; các tài liệu của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2010); khảo sát tại Ấn Độ (2012) về tình trạng gần 40% trạm bơm và NMXLNT không đáp ứng tiêu chuẩn O&M; kinh nghiệm quản lý quan trắc và ưu đãi tài chính theo đầu ra PRODES tại Brazil (2001); các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu về xử lý nước thải đô thị (91/271/EEC) và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp (IPPC 96/61/EC, sửa đổi 2008/1/EC); các mô hình đánh giá tính bền vững tại Hy Lạp và Thụy Điển.

Khoảng trống học thuật mà luận án giải quyết là thiết lập một phương pháp luận tích hợp giữa mô hình phân tích thứ bậc (AHP) và tham vấn chuyên gia để định lượng hóa trọng số của các tiêu chí đánh giá tính bền vững, đồng thời cụ thể hóa thành hệ thống các chỉ tiêu KT-KT thích ứng trực tiếp với đặc thù hạ tầng cống chung, nước thải hữu cơ thấp và điều kiện kinh tế - thể chế của các đô thị Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở khoa học về tính bền vững của công trình hạ tầng kỹ thuật môi trường, bao gồm sự tương tác giữa 4 trụ cột: công nghệ kỹ thuật, vận hành - bảo trì, tổ chức - thể chế quản lý, và cơ chế tài chính, đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Thu thập, tổng thuật các tài liệu khoa học, tiêu chuẩn (TCVN 7957:2008), quy chuẩn (QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 14:2008/BTNMT), văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 80/2014/NĐ-CP, Nghị định 154/2016/NĐ-CP, Nghị định 25/2013/NĐ-CP, Nghị định 63/2018/NĐ-CP, Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT, Quyết định 451/2015/QĐ-BXD).
  • Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra thu thập số liệu: Khảo sát hiện trạng công nghệ, công suất, chất lượng nước thải đầu vào/đầu ra, tiêu thụ điện năng, phát sinh bùn cặn và bộ máy tổ chức tại các NMXLNT ở Việt Nam, tập trung vào NMXLNT Bắc Ninh.
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia: Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát ý kiến các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia tư vấn và cán bộ kỹ thuật trong ngành cấp thoát nước để xác định mức độ ưu tiên giữa các yếu tố.
  • Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP): Thiết lập cấu trúc cây phân cấp gồm các mức tiêu chí và chỉ tiêu. Xây dựng các ma trận so sánh cặp, tính toán trọng số thành phần, kiểm tra tính nhất quán thông qua tỷ số nhất quán (CR) với chỉ số ngẫu nhiên (RI), và tính toán trọng số tổng hợp bằng phần mềm Expert Choice 11.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa đặc điểm nước thải đô thị, quy trình xử lý, hiện trạng hoạt động của các NMXLNT tại Việt Nam và trên thế giới:

  • Nước thải đô thị gồm: nước thải sinh hoạt (chiếm 67–85% tổng lượng nước thải đô thị tại Việt Nam), nước thải sản xuất và nước chảy tràn (nước mưa đợt đầu và đợt sau). Tiêu chuẩn thải nước sinh hoạt theo TCVN 7957:2008 lấy bằng 80–100% tiêu chuẩn cấp nước. Tại các thành phố lớn, lượng nước tiêu thụ dao động từ 100–200 L/người/ngày; vùng ven đô và nông thôn từ 50–100 L/người/ngày.
Quốc gia / Địa phương BOD (g/người/ngày) SS (g/người/ngày) TN (g/người/ngày) TP (g/người/ngày)
Năm 1970 [64] 36 41 7 1,0
Thái Lan (Chaopia) [62] 53 25 - -
Thái Lan (Phuket) [62] 42 - - -
Hà Nội [9] 40 - - -
TP. Hồ Chí Minh [31] 55 55 - -
Việt Nam (TCVN 7957:2008) 65 (Tổng) / 30-35 60-65 / 21-30 8 (NH4-N) 3,3 (P2O5) / 1,44 (P)
  • Đánh giá hiện trạng: Tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt mới đạt khoảng 12% theo công suất thiết kế và khoảng 9,5% theo công suất vận hành thực tế. Nước thải thu gom chủ yếu từ hệ thống cống chung (chỉ có 4 nhà máy tại Buôn Ma Thuột, Đà Lạt và Bình Dương thu gom từ hệ thống riêng). Nồng độ chất hữu cơ đầu vào rất thấp do bị pha loãng và phân hủy một phần trong bể tự hoại: BOD trung bình từ cống chung dao động từ 60–220 mg/L (so với cống riêng là 110–350 mg/L). Tỷ lệ BOD5/TN rất thấp, dao động từ 1,6 đến 4,1 (trong đó 86% nhà máy có tỷ lệ < 3, so với mức điển hình trên thế giới là 3–8), gây khó khăn lớn cho quá trình xử lý Nitơ bằng phương pháp sinh học.
  • Bùn thải và mùi: Khí sinh học sinh ra từ quá trình lên men kỵ khí bùn cặn (bể metan) phân hủy 60–80% chất hữu cơ, tạo 10–15 m³ khí/m³ bùn (hoặc 300–400 L khí/kg chất khô không tro).
Thành phần bùn cặn Lượng khí tạo thành (L/kg) CH4 (%) CO2 (%) Tỷ trọng khí (g/m³) Lượng khí (g/g chất phân hủy)
Đường 790 50 50 1250 0,895
Đạm 704 71 29 1010 0,71
Mỡ 1250 68 32 1050 1,31

Tại NMXLNT Yên Sở (200.000 m³/ngày), lượng bùn phát sinh chỉ khoảng 3.750 tấn/năm do hàm lượng cặn đầu vào thấp; cụm xử lý bùn tại NMXLNT Bắc Giang ngưng hoạt động 5–7 năm; tại Đà Lạt, bùn thải được phối trộn với than bùn (tỷ lệ 1:3) và xác bèo để sản xuất phân hữu cơ vi sinh đạt Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT (hàm lượng As: 0,52–0,81 mg/kg; Pb: 5,5–7,1 mg/kg; Cd: không phát hiện; Hg: 0,068–0,079 mg/kg; hữu cơ tổng số: 35,27–40,15%).

  • Luận án phân loại 5 mô hình tổ chức quản lý tài sản và vận hành HTTN tại Việt Nam:
    • Mô hình 1: Doanh nghiệp công ích (DNNN hoặc công ty TNHH MTV) được ủy quyền quản lý tài sản, làm chủ đầu tư dự án và trực tiếp vận hành.
    • Mô hình 2: UBND tỉnh/TP làm chủ sở hữu tài sản, Ban QLDA làm chủ đầu tư, sau đó bàn giao công trình cho 1 doanh nghiệp nhà nước (TNHH MTV) trực tiếp vận hành và quản lý tài sản.
    • Mô hình 3: UBND tỉnh/TP làm chủ sở hữu, Ban QLDA làm chủ đầu tư, bàn giao cho DNNN quản lý tài sản; công tác O&M được đấu thầu cho các doanh nghiệp.
    • Mô hình 4: Ban QLDA bàn giao tài sản cho chính quyền đô thị quản lý; công tác O&M được tổ chức đấu thầu.
    • Mô hình 5: Doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư và vận hành theo hình thức BT hoặc BO (sau BT chuyển giao về mô hình 2, 3 hoặc 4).
  • Tổng quan quốc tế: Tỷ lệ dân số đấu nối và xử lý nước thải phân hóa rõ theo thu nhập:
Nhóm thu nhập quốc gia Tỷ lệ dân số có đấu nối (%) Tỷ lệ đấu nối & được xử lý (%)
Thu nhập thấp 3,6 0,02
Thu nhập trung bình thấp 12,7 2,0
Thu nhập trên trung bình 53,6 13,8
Thu nhập cao 86,8 78,9

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Trung Quốc có 4.000 NMXLNT nhưng tỷ lệ thu gom chỉ đạt 46,8%; Ấn Độ có 40% trạm không đáp ứng tiêu chuẩn O&M năm 2012; Brazil thành công nhờ cơ chế chi trả theo kết quả đầu ra của chương trình PRODES (2001); EU thực thi nghiêm ngặt các hạn ngạch theo Chỉ thị 91/271/EEC và IPPC.

Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày khung lý thuyết và quy trình xây dựng hệ thống đánh giá tính bền vững:

  • Xác lập khái niệm hoạt động bền vững của NMXLNT tập trung trong điều kiện biến đổi khí hậu (chịu tác động của ngập lụt, nhiệt độ tăng, nước biển dâng làm thay đổi độ mặn và tải lượng dòng vào).
  • Thiết lập quy trình phân tích AHP: Xây dựng cây phân cấp AHP từ mục tiêu chung đến các nhóm tiêu chí và chỉ tiêu thành phần; thiết lập thang điểm so sánh cặp 1–9; xác định vector trọng số riêng; tính tỷ số nhất quán $CR = CI / RI$ (với $RI$ tra bảng theo cấp ma trận); sử dụng phần mềm Expert Choice 11 để xử lý dữ liệu khảo sát từ các chuyên gia.

Chương 3: Xây dựng các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đảm bảo sự hoạt động bền vững của nhà máy xử lý nước thải đô thị

Chương 3 tổng hợp kết quả tính toán trọng số và xây dựng khung tiêu chí, chỉ tiêu KT-KT, đồng thời áp dụng thực tiễn tại Bắc Ninh:

  • Hệ thống 6 nhóm tiêu chí đánh giá tính bền vững:
    1. Công suất và hiệu quả xử lý nước thải.
    2. Sự phù hợp của công nghệ XLNT với điều kiện địa phương.
    3. Chi phí vận hành và bảo trì.
    4. Điều kiện hoạt động của các công trình và thiết bị ổn định.
    5. An toàn thân thiện với môi trường xung quanh.
    6. Sự thích ứng với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu và thay đổi yếu tố đầu vào.
  • Hệ thống 4 nhóm chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đảm bảo hoạt động bền vững:
    • Nhóm chỉ tiêu Công nghệ: Công suất và chế độ thải nước; Hiệu quả xử lý nước thải (đáp ứng QCVN 40:2011/BTNMT hoặc quy chuẩn liên quan).
    • Nhóm chỉ tiêu Vận hành và bảo trì: Sự phù hợp với điều kiện của địa phương; Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; An toàn thân thiện với môi trường xung quanh (kiểm soát mùi, tiếng ồn, xử lý bùn).
    • Nhóm chỉ tiêu Thể chế và quản lý: Cơ chế quản lý về hoạt động của đơn vị vận hành NMXLNT; Tổ chức quản lý vận hành; Quản lý tài sản hạ tầng kỹ thuật.
    • Nhóm chỉ tiêu Tài chính: Giá dịch vụ thoát nước; Nguồn thu của NMXLNT; Khả năng tiết kiệm chi phí vận hành và bảo trì (tối ưu hóa điện năng, hóa chất).
  • Áp dụng đánh giá thực tế tại NMXLNT thành phố Bắc Ninh:
    • Đánh giá hiện trạng mạng lưới thoát nước và sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải.
    • Phân tích hiệu quả xử lý thực tế theo chuỗi số liệu quan trắc năm 2018 đối với các thông số: tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), tổng Nitơ (TN) và tổng Phốtpho (TP).
    • Đánh giá cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Thoát nước Bắc Ninh và mô hình đơn vị vận hành nhà máy.
    • Đề xuất các giải pháp KT-KT về công nghệ, bảo dưỡng thiết bị, kiện toàn thể chế và cân đối nguồn tài chính để đảm bảo tính bền vững lâu dài cho NMXLNT Bắc Ninh.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới của luận án:

  • Xây dựng được bộ tiêu chí khoa học đánh giá sự hoạt động bền vững của các NMXLNT đô thị tại Việt Nam, phản ánh đầy đủ các khía cạnh kỹ thuật, môi trường, kinh tế và thể chế.
  • Xác định được hệ thống trọng số và thứ tự ưu tiên của các nhóm tiêu chí đánh giá tính bền vững thông qua việc ứng dụng phương pháp AHP kết hợp tham vấn chuyên gia và xử lý bằng phần mềm Expert Choice 11.
  • Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đồng bộ, làm cơ sở khoa học để các đơn vị quản lý vận hành đưa ra các giải pháp can thiệp nhằm duy trì và nâng cao tính bền vững của nhà máy.
  • Áp dụng thành công bộ tiêu chí và chỉ tiêu KT-KT để đánh giá hiện trạng, chỉ ra các tồn tại và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý và tài chính cụ thể nhằm đảm bảo hoạt động bền vững cho NMXLNT thành phố Bắc Ninh.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Cần xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia riêng về nước thải đô thị xả ra nguồn tiếp nhận và quy chuẩn đấu nối nước thải vào hệ thống thoát nước tập trung.
  • Chuyển đổi triệt để từ cơ chế thu phí bảo vệ môi trường sang áp dụng giá dịch vụ thoát nước theo Nghị định 80/2014/NĐ-CP nhằm bù đắp chi phí O&M thực tế.
  • Khuyến khích các mô hình đầu tư đối tác công tư (PPP) theo Nghị định 63/2018/NĐ-CP và lựa chọn mô hình tổ chức quản lý tài sản, vận hành phù hợp với năng lực từng địa phương.
  • Định hướng lựa chọn công nghệ xử lý nước thải và bùn cặn phù hợp với tính chất nước thải loãng của hệ thống cống chung, chú trọng khả năng tái sử dụng bùn và tiết kiệm năng lượng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Dữ liệu khảo sát và kiểm chứng thực nghiệm chuyên sâu tập trung chủ yếu vào NMXLNT thành phố Bắc Ninh và một số đô thị đại diện, chưa bao phủ toàn diện tất cả các loại hình công nghệ xử lý sinh học tự nhiên (như hồ sinh học quy mô lớn tại miền Trung) trên toàn quốc.
  • Số liệu ghi chép chi tiết về tiêu thụ năng lượng, hóa chất tại nhiều nhà máy khảo sát còn phân tán, thiếu tính liên tục qua nhiều năm do hạn chế trong hệ thống lưu trữ dữ liệu tại các đơn vị vận hành.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng ứng dụng bộ tiêu chí và chỉ tiêu KT-KT để đánh giá, so sánh tính bền vững cho các NMXLNT sử dụng công nghệ khác nhau ở các vùng sinh thái đặc thù (vùng ven biển chịu ảnh hưởng triều cường, xâm nhập mặn, vùng núi cao).
  • Nghiên cứu tích hợp các giải pháp giám sát năng lượng trực tuyến và tự động hóa điều khiển (SCADA) nhằm tối ưu hóa chi phí O&M trong các chỉ tiêu KT-KT.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Kỹ thuật Môi trường, Cấp thoát nước, Quản lý Hạ tầng kỹ thuật và Đô thị học.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố) trong việc xây dựng cơ chế chính sách, ban hành định mức kinh tế kỹ thuật và giá dịch vụ thoát nước.
  • Các đơn vị tư vấn thiết kế, các ban quản lý dự án trong việc lựa chọn dây chuyền công nghệ xử lý nước thải và bùn cặn phù hợp với đặc thù đô thị Việt Nam.
  • Các công ty thoát nước, doanh nghiệp quản lý vận hành NMXLNT trong việc thiết lập quy trình quản lý tài sản, tối ưu hóa chi phí O&M và nâng cao hiệu quả xử lý môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao phần lớn các NMXLNT đô thị tại Việt Nam vận hành dưới 50% công suất thiết kế? Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống thu gom nước thải chưa đồng bộ, tỷ lệ đấu nối hộ gia đình vào mạng lưới cống còn thấp, tiến độ xây dựng mạng lưới cống thu gom chậm hơn tiến độ xây dựng nhà máy, và nhiều dự án gặp khó khăn trong việc tách nước thải từ hệ thống cống chung.

2. Tỷ lệ BOD5/TN thấp trong nước thải đô thị Việt Nam gây ra khó khăn gì cho quá trình xử lý? Phần lớn các NMXLNT tiếp nhận nước thải từ cống chung bị pha loãng và phân hủy sơ bộ qua bể tự hoại, dẫn đến nồng độ BOD5 thấp và tỷ lệ BOD5/TN chỉ đạt 1,6–4,1 (86% nhà máy có tỷ lệ < 3, thấp hơn mức 3–8 của thế giới). Thiếu hụt nguồn cacbon hữu cơ làm cho quá trình khử Nitơ sinh học (khử nitrat) gặp khó khăn, đòi hỏi quy trình vận hành phức tạp hoặc phải bổ sung nguồn cơ chất bên ngoài.

3. Luận án đề xuất bao nhiêu nhóm tiêu chí đánh giá tính bền vững và chỉ tiêu KT-KT? Luận án đề xuất 6 nhóm tiêu chí đánh giá tính bền vững (Công suất & hiệu quả xử lý; Sự phù hợp công nghệ; Chi phí O&M; Điều kiện hoạt động ổn định của công trình/thiết bị; An toàn thân thiện môi trường; Sự thích ứng với BĐKH và thay đổi đầu vào) và 4 nhóm chỉ tiêu KT-KT (Công nghệ; Vận hành & bảo trì; Thể chế & quản lý; Tài chính).

4. Có những mô hình tổ chức quản lý tài sản và vận hành HTTN nào đang tồn tại ở Việt Nam? Luận án tổng kết 5 mô hình quản lý theo Nghị định 80/2014/NĐ-CP: (1) Doanh nghiệp công ích vừa quản lý tài sản vừa trực tiếp O&M; (2) UBND tỉnh sở hữu, Ban QLDA làm chủ đầu tư và bàn giao cho DNNN quản lý tài sản kiêm O&M; (3) DNNN được ủy quyền quản lý tài sản và đấu thầu O&M cho doanh nghiệp; (4) Chính quyền đô thị quản lý tài sản và đấu thầu O&M; (5) Doanh nghiệp tư nhân đầu tư và vận hành theo hình thức BT hoặc BO.

5. Bùn thải sau xử lý tại các NMXLNT ở Việt Nam có thể tận dụng như thế nào theo nghiên cứu của luận án? Bùn cặn NMXLNT chứa hàm lượng hữu cơ, Nitơ và Phốtpho cao. Điển hình tại NMXLNT Đà Lạt, bùn thải sau xử lý được phối trộn với than bùn (tỷ lệ 1:3), xác bèo và chế phẩm vi sinh để sản xuất phân hữu cơ vi sinh đạt các tiêu chuẩn về kim loại nặng và dinh dưỡng theo Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT.

Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Thị Minh Hạnh đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong lĩnh vực cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường đô thị tại Việt Nam. Bằng việc ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP kết hợp tham vấn chuyên gia, nghiên cứu đã xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá và hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đảm bảo tính bền vững cho các NMXLNT tập trung. Kết quả kiểm chứng tại NMXLNT thành phố Bắc Ninh đã chứng minh tính thực tiễn và khả năng ứng dụng của khung đánh giá trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật, kiện toàn thể chế và cân đối tài chính cho hạ tầng thoát nước đô thị.