Chương 1: Tổng quan nguồn lợi cá nổi vịnh Bắc Bộ Chương 2: Phạm vi, phương pháp và nguồn số liệu sử dụng Chương 3: Kết quả nghiên cứu, đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vịnh Bắc Bộ. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1-TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI VỊNH BẮC BỘ 1. Khái quát về nguồn lợi cá nổi vịnh Bắc Bộ Biển Việt Nam được chia thành 4 vùng chủ yếu: Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Các hoạt động khai thác hải sản trong các vùng này được phân chia thành nghề cá ven bờ và nghề cá xa bờ, dựa vào độ sâu ngư trường ở mỗi vùng biển.
Ranh giới phân chia được xác định là đường đẳng sâu 50m ở vùng biển Trung Bộ và 30m ở các vùng biển còn lại. Mùa vụ khai thác chủ yếu có 2 vụ: vụ cá nam (tháng 5-10) và vụ cá bắc (tháng 11-4) tương ứng với hai mùa gió: mùa gió tây nam và mùa gió đông bắc (FICen – Trung tâm thông tin thủy sản). Dựa theo quan hệ với nhiệt độ, khu hệ cá vịnh Bắc Bộ được tạo thành bởi các nhóm loài như nhóm nhiệt đới rộng nhiệt, nhóm nhiệt đới hẹp nhiệt, nhóm ôn đới và cận nhiệt đới, trong đó thành phần nhiệt đới chiếm số lượng chủ yếu (89,3%). Do đó có thể coi khu hệ cá vịnh Bắc Bộ là một khu hệ cá nhiệt đới không hoàn toàn với hai nhóm chính là nhóm hẹp nhiệt và nhóm rộng nhiệt.
Thuộc nhóm thứ nhất là những loài cá nhiệt đới (191 loài, chiếm 25,6% tổng số loài của khu hệ) mà giới hạn phân bố phía bắc của chúng là tây bắc Biển Đông và vịnh Bắc Bộ là giới hạn phân bố phía nam của chúng. Thuộc nhóm thứ hai là những loài phân bố rất rộng trong vùng biển nhiệt đới của Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Nhóm này có 476 loài, chiếm 63,7% tổng số loài trong vịnh [7]. Dựa theo điều kiện cư trú, có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm chính: cá tầng trên (cá nổi), cá tầng đáy, cá đáy và cá sống trong rạn san hô.
Trong nhóm cá nổi có khoảng 260 loài, chiếm 15% tổng số loài cá trong vùng biển. Chúng thường sống ở tầng nước bên trên, tập trung thành đàn. Những ngày nắng ấm và thời tiết thuận lợi chúng thường nổi lên sát mặt nước, đôi khi nổi cả mõm hoặc vây lưng lên khỏi mặt nước để thở hoặc bắt mồi. Cùng với sự di cư vào vịnh Bắc Bộ trong thời gian mùa hè và ra khỏi vịnh vào mùa thu đông của một số loài cá nổi đại dương, còn có hiện tượng di chuyển tương đối của phần lớn cá từ phía bắc và tây vịnh đến phía nam và đông vịnh trong mùa thu đông và di chuyển theo hướng ngược lại trong mùa xuân hè.
Đồng thời với sự di chuyển theo chiều ngang, còn có 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện tượng di động theo chiều thẳng đứng từ tầng mặt xuống tầng sâu và ngược lại theo mùa.Ví dụ, về mùa lạnh, nhiệt độ nước biển tầ ng mă ̣t giảm thấp, những loài cá nổi đại dương bơi ra khỏi vùng biển, những loài cá nổi ven bờ thường bơi ra khơi, hoặc lần xuống tầng nước sâu. Các loài cá thu, cá ngừ có kích thước lớn, phân bố chủ yếu ở ngoài khơi, gần cửa vịnh và di chuyển vào gần bờ trong mùa sinh sản. Ngoài ra, theo kích thước chia thành nhóm cá nổi lớn như cá ngừ, cá cờ, cá kiế m… hoặc nhóm cá nhỏ như cá trích, cá nục, cá cơm, cá chuồn, cá bạc má, cá chỉ vàng… Theo đặc tính bắt mồi, chia thành nhóm cá ăn sinh vật nổi, nhóm ăn các loại cá khác hoặc ăn chất vẩn hữu cơ… Cá nổi nhỏ, đặc biệt là những loài thuộc giống cá nục, cá trích, cá cơm, cá chuồ n… phân bố rộng khắp vùng biển ven bờ nước ta. Chúng là đối tượng khai thác chính của ngư dân.
Ở vịnh Bắc Bộ , cá nổi nhỏ chiế m trên 83% trữ lươ ̣ng nguồ n lơ ̣i hải sản của vịnh [11] và là các đối tượng khai thác chính của nhiều loại nghề. Đánh giá của Bùi Đình Chung năm 1991 về nguồ n lơ ̣i cá nổ i đánh bắt bằng lưới kéo đôi ở các khu biển ven bờ tây vịnh Bắc Bộ cho thấ y , có khoảng 390 nghìn tấn trữ lươ ̣ng và khả năng khai thác 156 nghìn tấn/năm (các giá trị tương ứng củ a cá đáy là 48,4 và 31,3) [6]. Mô ̣t đánh giá khác của Viê ̣n Nghiên cứu Hải Sản năm 2006: trữ lượng cá nổi 433,1 nghìn tấn, khả năng khai thác 216,5 nghìn tấn/năm [9]. Theo số liê ̣u của Tổ ng cu ̣c Thố ng kê Viê ̣t Nam, sản lượng khai thác cá biển ở vịnh Bắc Bộ (chủ yếu ở nửa phiá tây và bao gồ m cả cá nổ i , cá đáy) của các tỉnh từ Quảng Ninh tới Quảng Bình liên tục gia tăng hàng năm , từ 191,7 nghìn tấn năm 2005 đến 253,3 nghìn tấn năm 2010 và 268,2 nghìn tấn năm 2011 [14].
Với tỷ lê ̣ trên 83% là cá nổi thì năm 2010-2011 sản lượng khai thác đối tượng này ở nửa tây vịnh Bắc Bộ đang ở mức 210-223 nghìn tấn/năm. Đáng lưu ý về công tác điều tra, nghiên cứu nguồn lợi cá nổi những năm qua ở biể n Viê ̣t Nam nói chung và vịnh Bắc Bộ nói riêng là: Trong những năm 1965 – 1972, Trạm Nghiên cứu Cá biển (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản) đã triển khai một số nội dung nghiên cứu cá nổi ở một số tỉnh trọng điểm như: Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình và tiếp theo năm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1973 – 1976, Viện Nghiên cứu Hải sản tổ chức điều tra nguồn lợi cá nổi vùng biển ven bờ phía tây vịnh Bắc Bộ (cán bộ khoa học được cử đi các tỉnh trọng điểm ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình thu thập số liệu về tình hình nguồn lợi và hiện trạng khai thác). Sau khi nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất (1975), năm 1977, Viện Nghiên cứu Hải sản tiếp nhận tàu nghiên cứu Biển Đông (1500 CV) của Na Uy. Tàu hiện đại, được trang bị lưới kéo đáy, lưới kéo tầng giữa, lưới vây và hệ thống máy dò thủy âm đồng bộ.
Từ năm 1977-1981, Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành 24 chuyến điều tra nghiên cứu tổng hợp môi trường, nguồn lợi cá biển ở vịnh Bắc Bộ và vùng biển Thuận Hải – Minh Hải. Năm 1979-1988: Việt Nam hợp tác với Liên Xô tiến hành Chương trình khảo sát nguồn lợi hải sản biển Việt Nam. Năm 1995 – 1997: Dự án khảo sát nguồn lợi biển Việt Nam do JICA (Nhật Bản) tài trợ đã tiến hành điều tra nguồn lợi cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ, cá thu…) ở vùng biển xa bờ từ Đồng Hới (Quảng Bình) đến Cà Mau. Năm 1996 – 1998: Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV – Giai đoạn I) sử dụng tàu HL 408 nghiên cứu nguồn lợi hải sản ở vùng nước xa bờ có độ sâu trên 50 m tại vịnh Bắc Bộ và đông tây Nam Bộ.
Năm 1997 – 1998: Dự án “Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng biển gần bờ nước ta”. Gần đây, đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu là cá nục, cá trích, cá bạc má…) ở biển Việt Nam” thuộc chương trình KHCN trong điểm cấp Bộ, mã số KC.01-14 do thạc sĩ Nguyễn Viết Nghĩa làm chủ nhiệm với nội dung bao gồm các vấn đề chủ yếu sau: (i) Phương pháp thuỷ âm và ứng dụng trong nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ; (ii) Kết quả đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam năm 2003-2005; (iii) Kết quả đánh giá hệ số phản hồi âm của một số loài cá nổi nhỏ; (iv) Hiện trạng một số nghề khai thác cá nổi nhỏ ở Việt Nam; (v) Hiện trạng phân bố trứng cá, cá bột của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một số loài cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam; và (vi) Các yếu tố hải dương học và thuỷ sinh vật có liên quan ở biển Việt Nam [9]. Một số phƣơng pháp đánh giá trữ lƣợng cá Trong các Chương trình Biển kể từ năm 1975 đã có một số kết quả nghiên cứu đánh giá trữ lượng cá ở biể n Việt Nam nói chung và vịnh Bắc Bộ nói riêng của các nhà khoa ho ̣c như Bùi Đình Chung , Phạm Thược, Nguyễn Tiến Cảnh…(Viện Nghiên cứu Hải Sản). Những nghiên cứu hiện có đều dựa trên các phương pháp truyền thống, kinh điển với các dữ liệu đầu vào còn nhiều bất cập nên đã có những kết quả khác nhau.
Mô ̣t số phương pháp đã đươ ̣c sử du ̣ng như : phương pháp tính toán số lượng đàn cá theo số lượng trứng, phương pháp dựa vào quan hệ giữa các nhóm tuổi khác nhau trong sản lượng cá đánh được, phương pháp thả cá đánh dấu, phương pháp tính trữ lượng căn cứ vào tình hình đánh bắt cá trên một đơn vị diện tích, phương pháp thống kê sản lượng cá nhiều năm v.v… Nhìn chung, việc đánh giá trữ lượng của bất kỳ loài cá nào đều phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan như đặc điểm sinh vật học, mối quan hệ giữa các loài cá với nhau, điều kiện môi trường sống của loài cá đó và phụ thuộc rất nhiều vào mức độ khai thác. Trữ lượng cá được xem là số lượng cá thể hay khối lượng của cả quần thể có trong một khu vực biể n nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Xác định trữ lượng cá là một trong những nội dung của việc đánh giá biến động quần thể, trong đó có việc xác định: (i) số lượng (cá thể) hoặc khối lượng (kg, tấn) của đàn cá tính trên một đơn vị diện tích hoặc thể tích, và (ii) mức độ khai thác tối ưu, nghĩa là số lượng (hoă ̣c khố i lươ ̣ng ) tối đa cá có thể khai thác được mà không làm ảnh hưởng đến quần thể. Ở Việt Nam hiện nay, hai nhóm phương pháp phổ biến để xác định trữ lượng là: Các phương pháp trực tiếp xác định số lượng hoặc trọng lượng đàn cá và các phương pháp gián tiếp biểu thị sản lượng cá thông qua các thông số của việc khai thác.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.