Chương 1: Những vấn đề chung, trình bày những kiến thức lí luận và thực tiễn cơ bản làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài, nhƣ: khái niệm định danh, phƣơng thức định danh; các đơn vị từ vựng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa; khái quát về vùng biển Bình Định; số liệu thống kê về tên gọi hải sản vùng biển Bình Định. Chương 2: Đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, trình bày kết quả miêu tả đặc điểm nguồn gốc; cấu tạo: đơn vị cấu tạo, phƣơng thức cấu tạo, tên hải sản vùng biển Bình Định. Chương 3: Đặc điểm định danh và sắc thái địa phương của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, trình bày kết quả khảo sát tên gọi hải sản vùng biển Bình Định về phƣơng thức định danh; sắc thái văn hóa địa phƣơng qua tên gọi hải sản. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Khái quát về định danh 1. Khái niệm định danh Định danh (nomination) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa là tên gọi. Thuật ngữ này biểu thị kết quả quá trình gọi tên của các đơn vị ngôn ngữ. Thuật ngữ định danh đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Ngay từ buổi sơ khai, con ngƣời đã có nhu cầu gọi tên cho sự vật hiện tƣợng… Bởi vì muốn phân biệt các sự vật, hiện tƣợng thì mỗi sự vật, hiện tƣợng cần có tên gọi. Theo Đỗ Hữu Châu (1998), trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, “Con người cần đến tên gọi các đối tượng xung quanh như cần đến không khí” [6, tr. Vì thế định danh trở thành một trong những chức năng quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ. Trong Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy Nguyễn Đức Tồn định nghĩa: “Định danh chính là đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng” [39, tr.
Qua quá trình nhận thức cảm tính, con ngƣời nhận biết đƣợc sự vật và qua quá trình nhận thức lý tính, con ngƣời có thể đặt tên cho sự vật. Định danh là thể hiện tƣ duy của con ngƣời “Tri giác cảm tính cho ta sự vật, lý tính cho ta tên gọi sự vật” [29, tr. Có thể nói định danh là một nhu cầu của ngôn ngữ, đúng hơn là nhu cầu của con ngƣời trƣớc thế giới khách quan. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) thì định danh có nghĩa là: “Sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [46, tr.
Đối tƣợng của lý thuyết định danh là nghiên cứu, miêu tả những quy luật về 8 cách cấu tạo các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, về sự tƣơng tác qua lại giữa tƣ duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan. Cơ sở định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa hiện thực - khái niệm - tên gọi. Lí thuyết định danh nghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trƣng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác. Hiện thực khách quan đƣợc hình dung nhƣ là cái biểu vật của tên gọi, còn tên gọi đƣợc nhận thức nhƣ là một dãy âm thanh đƣợc phân đoạn ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó.
Chính mối tƣơng quan giữa cái biểu vật và cái biểu nghĩa và xu hƣớng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh. Nguyễn Đức Tồn đã xác định một phƣơng thức định danh mà theo tác giả là rất phổ biến trong tiếng Việt, đó là cách chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ.), ví dụ: ghẹ - tình nhân, cáo - ranh mãnh,. Đây là phƣơng thức định danh gián tiếp “Về thực chất, phương thức định danh gián tiếp gắn bó khăng khít với sự chuyển nghĩa của các từ. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chủ yếu nghiên cứu theo phƣơng thức định danh trực tiếp (sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trƣng nào đó trong số các đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng; mô phỏng âm thanh tức là tƣợng thanh; ghép từ; vay mƣợn).
Định danh từ vựng Thuật ngữ từ vựng đƣợc dùng để chỉ đối tƣợng mà tiếng Anh gọi là (lexicon). Nếu chiết tự thì “vựng” là sƣu tập, tập hợp. Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ trong một ngôn ngữ. Các đơn vị từ vựng bao gồm cả các từ lẫn những đơn vị tƣơng đƣơng với từ, tức là cụm từ cố định.
Từ vựng của một ngôn ngữ là cái khách quan, là bộ phận cấu thành ngôn ngữ. Nhờ sự tri nhận của con ngƣời mà sự vật, hiện tƣợng mới có tên 9 gọi. Sự gọi tên này đã tạo ra các từ, các cụm từ cố định, từ đó hình thành nên hệ thống từ vựng. Định danh từ vựng có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con ngƣời.
Theo Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng: “Với khả năng đặt tên sự vật, con người hoàn toàn chiếm lĩnh được thế giới tự nhiên cả trong tồn tại cảm tính và cả trong tồn tại lý tính của nó” [6, tr. Tên gọi sự vật, hiện tƣợng có thể có tính lí do hay không lí do, phi võ đoán hay võ đoán. Mác đã nói “Tên gọi của sự vật nào đó không có gì chung với bản chất của nó, tôi hoàn toàn không biết gì về người này, nếu như tôi chỉ biết anh ta là Jakov” [39, tr.de Saussure “Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán” hay “Tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán” [12, tr. Các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, cho rằng “Những khái niệm được biểu thị hoàn toàn do qui ước, hay là do thói quen của tập thể qui định chứ không thể giải thích lí do” [14, tr.
Đỗ Hữu Châu khẳng định rằng “Nguyên tắc tạo thành các tên gọi là nguyên tắc có lí do” nhƣng “Nguyên tắc chi phối các tên gọi trong hoạt động bình thường của nó là nguyên tắc không có lí do” [6, tr. Tác giả Nguyễn Đức Tồn thì nhận định các tên gọi đều có lí do “Tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải võ đoán” [39; tr. Tác giả khẳng định: “Không có lí do thì có lẽ khó mà đặt được tên cho một sự vật mới” [39, tr. Nhƣ vậy theo quan điểm của các tác giả, định danh có thể có lí do hoặc không có lí do.
Tham gia vào quá trình định danh gồm có hai thành tố là chủ thể định danh và đối tƣợng đƣợc định danh. Phụ thuộc vào chủ thể định danh và đối tƣợng đƣợc định danh sẽ có hai loại lí do khác nhau: lí do chủ quan (phụ 10 thuộc vào chủ thể định danh) và lí do khách quan (phụ thuộc vào đối tƣợng đƣợc định danh). Lí do khách quan – nghĩa là một đặc trƣng, một thuộc tính nào đó của bản thân sự vật đƣợc chọn để làm dấu hiệu khu biệt gọi tên – loại lí do dễ nhận thấy nhất, ví dụ, tên gọi các loài cá được đặt dựa theo hình dáng: cá cờ, cá bánh lái, mực ống, ốc móng tay, banh lông, … Lí do chủ quan thì không phải ai cũng nhận thấy đƣợc. Chỉ có chủ thể định danh mới biết đƣợc lí do tại sao dùng tên gọi này để gọi tên ngƣời hoặc sự vật.
Ví dụ, khi nhìn vào tên gọi một số loài hải sản, chúng ta không nhận thấy đƣợc lý do: cá dóc, cá róc, cá cu, cá liệt, vẹm, nhum, so, chem chép, … Khi có một đối tƣợng cần định danh ngƣời ta sẽ tiến hành các thao tác sau đây: Thứ nhất là quy loại đối tƣợng mới vào nhóm đối tƣợng nào đó đã có tên trong ngôn ngữ. Thứ hai là vạch ra những đặc trƣng vốn có của đối tƣợng mới rồi chọn một đặc trƣng đƣợc coi là tiêu biểu mang tính khu biệt của đối tƣợng mới với đối tƣợng khác. Thứ ba là sử dụng biện pháp cấu tạo từ theo loại hình ngôn ngữ làm phƣơng tiện định danh. Nguyễn Đức Tồn đã nêu ví dụ minh họa cho điều này: để đặt tên loài cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng cƣa, hoa màu hồng, có hƣơng thơm, … quá trình định danh diễn ra nhƣ sau: trƣớc hết ngƣời Việt quy nó vào khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là hoa và chọn đặc trƣng màu sắc đập vào mắt cũng đã có tên gọi là hồng.
Khi đó, loại cây này sẽ có tên gọi là hoa hồng. Nhƣng sau đó ngƣời ta thấy màu sắc hoa của loài cây ấy không chỉ là màu hồng, mà còn có thể là trắng, đỏ thẫm nhung, nên đã có các tên gọi hoa hồng bạch, hoa hồng nhung, … 11 Đối với tên gọi hải sản cũng vậy, để đặt tên cho loài cá sống ở rạn san hô, hình dáng giống con bƣớm, …quá trình diễn ra nhƣ sau: trƣớc hết ngƣời dân quy nó về khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là cá và chọn đặc trƣng hình dáng đập vào mắt cũng đã có tên gọi là bướm. Khi đó, loài cá này sẽ có tên gọi là cá bướm. Nhƣng sau đó ngƣời ta thấy màu sắc của loài cá ấy có rất nhiều màu ví nhƣ màu trắng, màu nâu nhạt, … nên đã có các tên gọi cá bướm trắng, cá bướm nâu nhạt, … Để định danh các sự vật, hiện tƣợng, ngƣời ta thƣờng lựa chọn đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng để làm cơ sở gọi tên nó.
Đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng thƣờng có đặc điểm nổi bật về hình thức, màu sắc. Tên gọi có vai trò quan trọng đối với tƣ duy của con ngƣời. Nhờ có tên gọi, con ngƣời phân biệt đƣợc sự vật, hiện tƣợng này với sự vật, hiện tƣợng khác. Qua tên gọi của sự vật, hiện tƣợng, chúng ta có thể hiểu về đặc điểm văn hóa của từng dân tộc.
Nhƣ vậy, định danh từ vựng giúp cho chúng ta thấy đƣợc lối tƣ duy của một cộng đồng ngôn ngữ và tâm lí dân tộc hay nét độc đáo của một cộng đồng ngôn ngữ. Đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá qua định danh 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một thuật ngữ có tính phổ biến và xuất hiện rất sớm. Trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, văn hóa đƣợc hiểu là cách thức hành xử trong xã hội của tầng lớp thống trị.