Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là yếu tố quan trọng hàng đầu, không thể thay thế đối với tất cả các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp. Việc nghiên cứu cải tiến, phát triển các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp đều phải bắt đầu từ việc đánh giá tiềm năng tài nguyên đất, từ đó xác định đƣợc những ƣu thế, cũng nhƣ những hạn chế của đất đai và hiện trạng hoạt động canh tác là rất quan trọng. Ở nƣớc ta, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp luôn nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nƣớc. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản phẩm nông sản thu đƣợc đều thông qua chức năng sản xuất của đất.
Hiện nay, dƣới sức ép về sự gia tăng dân số, kinh tế xã hội phát triển mạnh, nhu cầu của ngƣời dân về lƣơng thực, thực phẩm và đời sống văn hoá tinh thần tăng lên không chỉ về mặt số lƣợng mà cả về chất lƣợng. Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm, ngành sản xuất nông nghiệp phải đi theo hƣớng thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất và chất lƣợng sản phẩm và phải duy trì đƣợc độ phì nhiêu đất. Do đó việc đánh giá số lƣợng và chất lƣợng đất đai là hết sức cần thiết để phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất cho hiệu quả và bền vững. Khai thác tiềm năng đất đai ở nƣớc ta còn nhiều hạn chế kể từ khi đất nƣớc giành đƣợc độc lập từ tay thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ, giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp ở Việt Nam đƣợc khởi sắc từ kể từ khi Đảng và Nhà nƣớc ban hành chính sách khoán sản phẩm đến nhóm và ngƣời lao động trong hợp tác xã nông nghiệp theo Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 của Ban Bí thƣ trung ƣơng, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị (tháng 4 -1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đã giải phóng sức sản xuất của ngƣời lao động trong sản xuất nông nghiệp.
Nghị định 64 NĐ/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp khi thi hành Luật Đất đai 1993, ba mốc son đánh dấu sự thành công trong việc ban hành và thực thi các chính sách quan trọng trong nông nghiệp của Đảng và Nhà nƣớc đã là liều thuốc hữu hiệu đƣa hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp tăng lên rõ rệt. Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã nhanh 1 chóng đƣa nƣớc ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng lƣơng thực, trở thành nƣớc xuất khẩu gạo, năm 2012 Việt Nam xuất khẩu 7,8 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ 2 trên thế giới sau Ấn Độ (Trần Huỳnh Thuý Phƣợng, 2013). Nƣớc ta là nƣớc có tỷ lệ diện tích đất tự nhiên trên đầu ngƣời thấp (3.808 m2/ngƣời); diện tích đất sản xuất nông nghiệp thấp (1.100 m2/ngƣời); đất trồng cây hàng năm 708 m2/ngƣời, trong đó đất trồng lúa 470 m2/ngƣời; đất trồng cây lâu năm 381 m2/ngƣời; đất lâm nghiệp 1.698 m2/ngƣời), nhu cầu sử dụng đất cho phát triển kinh tế – xã hội ngày càng cao, Việt Nam có bờ biển dài (khoảng 3.260 km) với diện tích đất đồng bằng ven biển so với các loại đất khác là khá lớn và rất quan trọng cho sự ổn định đời sống (Tổng cục Thống kê, 2011). Nƣớc ngọt cho sản xuất và sinh hoạt là vấn đề khó khăn với nhiều vùng đất ven biển Việt Nam, việc sử dụng đất nông – lâm nghiệp vùng ven biển Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển, tuy nhiên bên cạnh các mặt tích cực thì việc khai thác sử dụng đất nông nghiệp ven biển phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro do sự tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và nhân tạo (sự thay đổi khí hậu toàn cầu, các nguy cơ bão lũ, chế độ thuỷ triều, nƣớc ngầm nhiễm mặn, sự thay đổi kiểu sử dụng đất của con ngƣời, v.), ngoài mục tiêu khai thác đất nông – lâm nghiệp vào mục đích dân sinh, việc sử dụng đất nông - lâm nghiệp ven biển còn phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất đai và môi trƣờng sinh thái (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012).
Các vùng đất ven biển luôn chịu áp lực rất lớn của thiên tai, khu vực này đang phải đối mặt với nhiều mối đe doạ nhƣ gia tăng dân số, đói nghèo, khai thác tài nguyên quá mức bằng phƣơng pháp huỷ diệt, các tai biến chính ở vùng ven biển là lũ lụt, xói lở biển, vỡ đê, cát bay, nhiễm mặn, v. Hải Hậu là huyện ven biển nằm ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định. Trong phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là trong ngành sản xuất nông nghiệp, Hải Hậu cũng đã đạt đƣợc một số thành tựu nhất định trong sản xuất nông nghiệp, nhƣng vẫn chƣa khai thác hết tiềm năng và lợi thế, nông nghiệp chủ đạo hiện nay vẫn là sản xuất lƣơng thực lúa gạo và chiếm tỷ trọng rất lớn trong sản xuất nông nghiệp của huyện (UBND huyện Hải Hậu, 2011). Một số vùng đất ven biển ngƣời dân đã chuyển đổi một phần diện tích đất làm muối, đất mặt nƣớc, đất bằng chƣa sử dụng sang mục đích nuôi trồng thuỷ sản mặn – lợ và bƣớc đầu đã 2 thu đƣợc hiệu quả nhất định (UBND huyện Hải Hậu, 2010).
Tuy nhiên, để góp phần nâng cao giá trị trong sử dụng đất, từng bƣớc cải thiện đời sống ngƣời dân thì việc đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế so sánh của đất đai trên địa bàn huyện là rất cần thiết nhằm xác định đƣợc hƣớng bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyện đạt hiệu quả cao và bền vững là mục tiêu quan trọng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” có ý nghĩa thực tiễn và mang tính cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tiềm năng đất đai, đánh giá hiệu quả sử dụng đất các LUT huyện Hải Hậu, phân hạng thích hợp đất đai, đánh giá hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp, đánh giá tính bền vững của các LUT đƣợc lựa chọn, đề xuất định hƣớng và giải pháp sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Hải Hậu đến năm 2020. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.
Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Xác định đƣợc bộ dữ liệu cơ bản về tiềm năng đất đai của huyện Hải Hậu (trên cơ sở phƣơng pháp đánh giá đất của FAO) làm cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Hải Hậu. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho các nhà quản lý chỉ đạo và điều hành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hải Hậu trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hƣớng hiệu quả, bền vững. - Các kết quả nghiên cứu có thế giúp địa phƣơng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hƣớng phát triển bền vững, góp phần tăng thu nhập cho ngƣời sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu - Điều kiện tự nhiên (khí hậu, đặc điểm địa hình, nguồn nƣớc, chế độ thuỷ văn, thảm thực vật, v. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu. 3 - Các loại đất sản xuất nông nghiệp và đất có khả năng sản xuất nông nghiệp. - Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện, các mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình.
- Nông dân và ngƣời sử dụng đất. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi địa giới hành chính huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. - Phạm vi thời gian: Các vấn đề liên quan đến đối tƣợng và địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 1980 – 2013, tập trung chủ yếu trong 3 năm 2009 - 2011. Những đóng góp mới của đề tài - Góp phần bổ sung tƣ liệu khoa học về tính chất đất, xác định đƣợc bộ dữ liệu cơ bản về tiềm năng đất đai của huyện Hải Hậu (trên cơ sở phƣơng pháp đánh giá đất của FAO) phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp huyện ven biển vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Luận án đã lựa chọn và xác định đƣợc một số chỉ tiêu định tính và định lƣợng để đánh giá tính bền vững của các LUT trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện Hải Hậu. - Đề xuất đƣợc các loại hình sử dụng đất nông nghiệp và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả và bền vững trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đến năm 2020. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về đánh giá đất đai 1.
Khái niệm về đất, đánh giá đất đai, sử dụng đất, hệ thống sử dụng đất - Đất (soil): Docuchaev (1846 – 1903) đã đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối hoàn chỉnh về đất: "Đất là lớp vỏ phong hoá trên cùng của trái đất, được hình thành do tác động tổng hợp của năm yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian. Nếu là đất đã sử dụng thì có thêm sự tác động của con người là yếu tố hình thành đất thứ 6” (Nguyễn Mƣời và cs, 2000). Giống nhƣ vật thể sống khác, đất cũng có quá trình phát sinh, phát triển và thoái hoá vì các hoạt động về vật lý, hoá học và sinh học luôn xảy ra trong nó (Đỗ Nguyên Hải, 2000). Theo Wiliam (1863 – 1939) đƣa ra định nghĩa: "Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng".
Nhƣ vậy theo quan điểm này, đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm (Nguyễn Mƣời và cs. Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology), đất đai đƣợc coi là vật mang (Carrier) của hệ sinh thái (Eco-System).