Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Luận án được trình bày trong 235 trang A4, 34 bảng biểu, 10 hình vẽ, 14 biểu đồ, danh mục 05 công trình khoa học của tác giả đã được công bố và 140 tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng Anh và 8 phụ lục kèm theo. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về phát triển ngành chăn nuôi lợn và các vấn đề môi trường 1. Phát triển ngành chăn nuôi lợn trên thế giới Ngành chăn nuôi đã phát triển với tốc độ chưa từng thấy trong vài thập kỷ qua do sự bùng nổ nhu cầu thực phẩm có nguồn gốc từ động vật tại các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới. Số lượng lợn tăng nhanh từ năm 2012 đến năm 2015 từ 793,74 triệu con lên 801,6 triệu con (biểu đồ 1. Từ năm 2016 đến tháng 10/2019 số lượng lợn được nuôi trên toàn thế giới giảm nhẹ từ 792,42 triệu con xuống 767,6 triệu con.
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng thịt lợn với 52.000 tấn thịt vào 8/2017 (bảng 1. Ngành chăn nuôi lợn đã đóng góp 40% giá trị toàn cầu của sản lượng nông nghiệp, hỗ trợ sinh kế và an ninh lương thực của gần 1,3 tỷ người [140]. Sản xuất thịt lợn thương phẩm đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây. Tại Bắc Mỹ, nhu cầu về số lượng thịt lợn gia tăng nhanh, còn tại Châu Âu nhu cầu này đang gia tăng chậm hoặc giữ ổn định.
Ở Châu Phi, số lượng thịt lợn tiêu thụ gần đây tăng trưởng nhanh hơn, phản ánh sự gia tăng chăn nuôi lợn [140]. Các hệ thống sản xuất thịt lợn quy mô lớn đang tồn tại ở các nước phát triển, chủ yếu chuyển đổi từ mô hình nuôi truyền thống sang mô hình mới quy mô công nghiệp. Tại các nước đang phát triển, một nửa số lượng lợn hiện nay vẫn được nuôi trong các hệ thống sản xuất nhỏ dựa trên quy mô nhỏ truyền thống. Phương thức chăn nuôi lợn của các nước trên thế giới hiện tồn tại 3 hình thức cơ bản [118]: - Chăn nuôi quy mô công nghiệp, thâm canh công nghệ cao: sử dụng công nghệ sinh học và công nghệ thông tin trong sản xuất, tập trung chủ yếu ở các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước ở châu Á, Phi, Mỹ La Tinh.
- Chăn nuôi trang trại bán thâm canh, tập trung tại phần lớn các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông. - Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh, tập trung tại phần lớn các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Số lượng lợn (triệu con) Năm Biểu đồ 1. Số lƣợng lợn trên thế giới 2012 – 2019 Nguồn: The Statistics Portal, 2019 [121] Bảng 1.
Các quốc gia có sản lƣợng thịt lợn đứng đầu thế giới Năm 2016 Năm 2017 TT Quốc gia (nghìn tấn thịt) (nghìn tấn thịt) 1 Trung Quốc 52.305 Nguồn: USDA Foreign Agricultral Service (updated 14/8/2017) [132] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam Về khối lượng sản xuất và giá trị kinh tế, chăn nuôi lợn là phân ngành lớn nhất. Chăn nuôi lợn được thực hiện rộng rãi tại cả 6 vùng sinh thái nông nghiệp của quốc gia nhưng tập trung nhiều nhất tại những khu vực đồng bằng như Đồng bằng sông Hồng, Tây Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long [43]. Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi, ngành chăn nuôi lợn Việt Nam phát triển mạnh mẽ, số lượng đầu lợn tăng đột biến trong 5 năm từ năm 2000 đến 2005: từ 20,200 triệu con tăng lên 27.
Từ năm 2005 đến nay, chính sách phát triển chăn nuôi lợn đã có sự chuyển dịch sang ổn định tổng số đầu lợn, tăng giá trị sản xuất và qui mô đàn. Từ năm 2010 đến sơ bộ đầu năm 2017, tổng số đầu lợn trên cả nước dao động từ 27.285 con lợn (biểu đồ 1. Số lượng lợn (nghìn con) Năm Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2017[124] Biểu đồ 1. Số lƣợng đầu lợn qua các năm 2010 – 2017 Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, trong đó nội dung tái cơ cấu chăn nuôi bao gồm di chuyển dần vật nuôi từ những khu vực đông dân cư tới những khu vực có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân cư thưa thớt hơn như những khu vực cao nguyên, miền núi, và di chuyển những khu chăn nuôi ra xa khỏi các thành phố và khu vực dân cư; chuyển đổi các hệ thống chăn nuôi từ chăn nuôi quy mô nhỏ sang quy mô lớn.
Các đặc điểm của hệ thống chăn nuôi lợn tại Việt Nam đã được tác giả Đinh Xuân Tùng tổng hợp trình bày tại bảng 1. Đặc điểm của hệ thống chăn nuôi lợn tại Việt Nam Lợn Hệ thống Chăn nuôi lợn tiêu thụ khoảng 70% trong tổng số 14,4 triệu tấn nuôi dưỡng thức ăn công nghiệp/năm Trên 2/3 số cơ sở chăn nuôi lợn sử dụng thức ăn công nghiệp. Số lượng cơ sở chăn nuôi thương phẩm sử dụng thức ăn công nghiệp chiếm 86,3% trong khi các cơ sở chăn nuôi lợn thương phẩm chỉ chiếm 42%, Và cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ chiếm 25,7% Khoảng 60% mẫu thức ăn cho lợn cho thấy có ít nhất một loại kháng sinh thuộc nhóm tetaxylin và tylosin, trong đó có một mẫu chứa lượng tylosin vượt quá giới hạn cho phép Hệ thống Loại chuồng trại phổ biến nhất là chuồng kiên cố chuồng trại 71,8% cơ sở chăn nuôi thương phẩm có sàn bê tông, tiếp theo là các cơ sở chăn nuôi thương phẩm quy mô nhỏ (68,7%), và các cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ (48,2%) Trong sản xuất lợn công nghiệp, các trại có chuồng kín chỉ chiếm 3%, chuồng trại bán kín chiếm 21%, và chuồng hở chiếm 76% Lưu ý: a. Bộ NN&PTNT xác định hộ chăn nuôi nhỏ theo các loài đồng vật khác nhau như sau: - Chăn nuôi lợn: >20 con lợn nái gọi là trang trại, < 20 con lợn nái gọi là chăn nuôi hộ gia đình.
- Lợn thịt > 100 con lợn/đàn gọi là trang trại, và < 100 con là chăn nuôi hộ gia đình.000 con/đàn gọi là chăn nuôi trang trại, < 2.000 con gọi là chăn nuôi hộ gia đình. - Trâu/bò: Làm giống > 10 con gọi là trang trại và để nuôi thịt > 50 con là trang trại. Tuy nhiên, không phải tất cả các ấn phẩm đều tuân theo sự phân loại này. Một số tác giả chỉ đơn giản chia các trại theo quy mô nhỏ, vừa và lớn.
Đánh giá môi trường thực vật trong chăn nuôi.vn/vi/news/Thong-tin-Sukien- Thanh-tuu-KH-CN/Danh-gia-thuc-trang-o-nhiem-moi-truong-trong-chan-Nuoi-32705. Nguồn: Đinh Xuân Tùng, 2017 [43] Quá trình tái cấu trúc ngành chăn nuôi lợn liên quan tới chuyển dịch, tiến đến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những hệ thống chăn nuôi lợn thâm canh và quy mô sản xuất lớn hơn. Năm 2014, 70% số con lợn và 60% sản phẩm thịt lợn được sản xuất bởi các cơ sở chăn nuôi hộ gia đình, số còn lại được sản xuất từ các cơ sở chăn nuôi lợn thương phẩm quy mô lớn [15, 43]. Số cơ sở chăn nuôi lợn giảm xuống hơn 65% giữa năm 2005 và 2014.
Năm 2014, số trại lợn có từ 10 con trở lên chiếm 65,8% số thịt lợn cung cấp cho thị trường [42, 43]. Các vấn đề môi trƣờng trong ngành chăn nuôi Trong thập niên qua, cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam có sự thay đổi lớn, số lượng các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ giảm xuống, trong khi số lượng vật nuôi tăng lên. Các cơ sở chăn nuôi lớn thường tạo ra nhiều chất thải vượt qua khả năng tái chế để sử dụng làm phân bón hoặc khí đốt sinh học [43]. Các cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ (nông hộ) hoặc quy mô trang trại chưa được qui hoạch và mang tính tự phát với hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi lợn chưa hiệu quảnên thường ở trong tình trạng ô nhiễm môi trường.
Nước thải và chất thải rắn của ngành chăn nuôi đang gây ra nhiều vấn đề môi trường bức xúc cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng. Ô nhiễm nước thải Khoảng 30% các trang trại nuôi lợn đã thực hiện tách riêng việc thu gom chất thải rắn và lỏng, khoảng 60% số trại này thực hiện xử lý chất thải theo dạng hỗn hợp [43]. Một số khu vực chăn nuôi lợn còn xả chất thải trực tiếp ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần.
Tổng số vi sinh vật và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần. Ngoài ra, nước thải chăn nuôi lợn còn có chứa Coliform, Ecoli, COD,. và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 62-MT:2016/BTNMT về nước thải chăn nuôi. Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn (trên 1.000 con lợn), phần lớn có hệ thống xử lý nước thải (khoảng 67%) với các loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để.
Trong đó, chỉ có khoảng 2,8% có báo cáo đánh giá tác động môi trường [46]. Công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi lợn quy mô trang trại chủ yếu là công nghệ biogas. Hầu hết nước thải đầu vào hệ thống biogas là nước thải hỗn hợp trộn lẫn phân, nước tiểu, thức ăn và nước rửa chuồng của tất cả các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại lợn thịt, lợn con. Riêng đối với lợn nái, phân khô được hốt riêng dùng làm phân bón.
Khí sinh học (KSH) từ bể biogas được thu hồi phục vụ cho mục đích đun nấu, tuy nhiên lượng KSH dư thừa rất lớn được đốt và xả trực tiếp vào không khí. Tổng hợp các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi lợn theo nghiên cứu của Tổ chức đối tác môi trường nước Châu Á (WEPA, 2017) [118] được trình bày trong hình 1. Tại một số trang trại hay hộ gia đình chăn nuôi lợn, người dân tự thiết kế và xây dựng hệ thống biogas. Do không có sự hướng dẫn của các đơn vị chức năng, nhiều hầm biogas vận hành không phù hợp với qui mô chăn nuôi, hiệu quả xử lý chất thải thấp.