Tổng quan nghiên cứu

Ô nhiễm môi trường do chất thải con người đang là thách thức y tế công cộng nghiêm trọng trên quy mô toàn cầu, khi có khoảng 40% dân số thế giới (tương đương 2,6 tỷ người, chủ yếu tập trung tại châu Á và châu Phi) chưa được tiếp cận với điều kiện vệ sinh bảo đảm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 88% gánh nặng bệnh tật đường tiêu hóa và 1,8 triệu ca tử vong do tiêu chảy mỗi năm có liên quan trực tiếp đến nguồn nước ô nhiễm, hành vi vệ sinh kém và tình trạng thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh. Tại Việt Nam, khảo sát quốc gia cho thấy tỷ lệ tiếp cận công trình vệ sinh đạt chuẩn ở nông thôn còn rất hạn chế, trở thành nguyên nhân cốt lõi gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, đất đai và gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm.

Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng của tác giả Bùi Hữu Toàn thực hiện đề tài "Đánh giá thực trạng và nguyên nhân xây dựng, sử dụng, bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội năm 2009" nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trên. Nghiên cứu đặt ra hai mục tiêu chính: mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về nhà tiêu hợp vệ sinh cùng các yếu tố liên quan của người dân nông thôn; đồng thời phân tích sâu các rào cản, nguyên nhân dẫn đến thực trạng xây dựng, sử dụng và bảo quản công trình vệ sinh chưa đạt chuẩn.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 4/2009 đến tháng 9/2009 tại hai vùng sinh thái đặc trưng của huyện Chương Mỹ, gồm xã Hữu Văn (vùng đồi gò) và xã Hoàng Văn Thụ (vùng chiêm trũng). Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi chỉ ra khoảng trống giữa số lượng và chất lượng thực tế: dù 94,1% hộ gia đình sở hữu nhà tiêu, nhưng chỉ có 11,8% công trình đạt đầy đủ tiêu chuẩn vệ sinh toàn diện theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học xác thực nhằm phục vụ việc điều chỉnh kế hoạch hành động thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006-2010, hướng tới đích đạt 70% hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình lan truyền bệnh theo chu trình phân - miệng (F-diagram) của Tổ chức Y tế Thế giới và Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model) để phân tích hành vi vệ sinh môi trường của cộng đồng. Theo chu trình dịch tễ học, mầm bệnh từ phân người xâm nhập vào cơ thể qua các trung gian truyền bệnh như ngón tay, thực phẩm, ruồi nhặng, nguồn nước và đất. Để cắt đứt chuỗi lây truyền này, hai rào chắn kiểm soát bắt buộc phải được thiết lập đồng thời: rào chắn thứ nhất là xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh nhằm cô lập triệt để nguồn phân; rào chắn thứ hai là thực hành hành vi vệ sinh cá nhân, trọng tâm là rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.

Luận văn xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên các khái niệm và văn bản quy chuẩn pháp lý cốt lõi:

  • Tiêu chuẩn nhà tiêu hợp vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế, phân loại 4 mô hình kỹ thuật chính gồm: nhà tiêu tự hoại (bể xử lý 3 ngăn, có nút nước và ống thông hơi); nhà tiêu thấm dội nước (cách nguồn nước sinh hoạt từ 10m trở lên, không ngập úng); nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ (có máng dẫn nước tiểu riêng, thời gian ủ phân tối thiểu 6 tháng); nhà tiêu chìm có ống thông hơi; kết hợp phân tích mở rộng đối với mô hình nhà tiêu Biogas sinh học.
  • Tiêu chuẩn vệ sinh toàn diện: Đòi hỏi công trình phải đạt đồng thời các tiêu chí kỹ thuật về xây dựng (kết cấu kín khít, sàn phẳng, không rò rỉ, có nắp đậy) và tiêu chí quản lý trong quá trình sử dụng, bảo quản (đủ nước dội, không mùi hôi thối, không có ruồi nhặng, xử lý giấy vệ sinh đúng quy cách).
  • Phân loại hộ nghèo theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ mức thu nhập bình quân đầu người từ 200.000 đồng/tháng trở xuống để đánh giá mối tương quan kinh tế - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu của dữ liệu. Cỡ mẫu định lượng được xác định theo công thức ước tính tỷ lệ với độ tin cậy 95%, tỷ lệ giả định p = 0,05, sai số cho phép d = 0,1 và hệ số hiệu lực thiết kế bằng 2, cho ra quy mô mẫu khảo sát thực tế là 407 hộ gia đình (gồm 206 hộ tại xã Hữu Văn và 201 hộ tại xã Hoàng Văn Thụ).

Quy trình chọn mẫu định lượng thực hiện ngẫu nhiên qua 3 giai đoạn:

  • Bước 1: Bốc thăm ngẫu nhiên mỗi vùng sinh thái 1 xã đại diện.
  • Bước 2: Lập danh sách thôn và chọn ngẫu nhiên 1/3 số thôn trong mỗi xã.
  • Bước 3: Sử dụng bảng số ngẫu nhiên từ sổ hộ tịch để chọn hộ gia đình đầu tiên và tiếp tục chọn các hộ kế tiếp theo phương pháp cổng liền cổng.

Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua 20 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 12 cán bộ thuộc chính quyền địa phương, Trung tâm Y tế dự phòng huyện, trạm y tế xã, ban giám hiệu trường tiểu học, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và 8 đại diện hộ gia đình chưa có nhà tiêu hoặc đang sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. Đội ngũ điều tra viên kết hợp quan sát trực tiếp hiện trạng nhà tiêu bằng bảng kiểm kỹ thuật chuẩn hóa.

Lý do lựa chọn phối hợp phương pháp phân tích này là để giải quyết triệt để sự sai lệch giữa số liệu báo cáo hành chính và chất lượng thực tế. Toàn bộ dữ liệu thực địa được kiểm tra và nhập liệu kép trên phần mềm Epi Info 6 nhằm triệt tiêu sai số nhập liệu, sau đó được làm sạch và xử lý thống kê mô tả, phân tích tương quan bằng phần mềm SPSS 12 và EpiData. Dữ liệu định tính được phân tích theo phương pháp xếp nhóm theo chủ đề để làm sáng tỏ các rào cản xã hội và tập quán địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng phản ánh rõ thực trạng vệ sinh môi trường tại huyện Chương Mỹ:

Thứ nhất, tồn tại sự tương phản sâu sắc giữa tỷ lệ sở hữu nhà tiêu hình thức và tỷ lệ đạt chuẩn vệ sinh thực tế. Có tới 94,1% hộ gia đình sở hữu nhà tiêu, tuy nhiên cơ cấu loại hình phần lớn là các hố xí cầu tro, nhà tiêu một ngăn không hợp vệ sinh chiếm 66,6%. Tỷ lệ hộ có công trình thuộc nhóm loại hình hợp vệ sinh chỉ chiếm 27,5% (trong đó nhà tiêu tự hoại chiếm 16,9%, thấm dội nước 6,1%, hai ngăn 4,2% và Biogas 0,2%). Đáng chú ý, khi thẩm định theo tiêu chuẩn toàn diện của Bộ Y tế, chỉ có 11,8% tổng số hộ đạt cả tiêu chuẩn xây dựng lẫn sử dụng, bảo quản; trong khi tỷ lệ chỉ đạt tiêu chuẩn xây dựng là 15,0% và chỉ đạt tiêu chuẩn sử dụng, bảo quản là 12,5%.

Thứ hai, nhận thức của người dân về công trình vệ sinh và bệnh truyền nhiễm còn nhiều lỗ hổng lớn. Khoảng 16,7% người được phỏng vấn hoàn toàn không kể được bất kỳ loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào. Có 75,2% số người chỉ biết duy nhất 1 loại nhà tiêu (chủ yếu là tự hoại với 79,6%), và không có đối tượng nào kể tên được từ 3 loại trở lên. Đáng báo động, 27,0% người dân không biết bệnh tật do phân người gây ra; chỉ 36,1% nhận biết việc dùng nhà tiêu hợp vệ sinh giúp phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun, trong khi thực hành rửa tay bằng xà phòng chỉ được 12,0% người dân nhắc tới như một biện pháp phòng bệnh.

Thứ ba, tập quán sử dụng phân người chưa qua xử lý an toàn trong canh tác nông nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Có tới 58,9% hộ gia đình đang sử dụng phân người để bón cây trồng và nuôi cá, tập trung cao tại vùng chiêm trũng với 84,1%. Trong số các hộ sử dụng phân, có 4,5% hộ dùng trực tiếp phân tươi không qua ủ và 74,4% hộ có ủ phân nhưng thời gian ủ dưới 6 tháng (chưa đủ điều kiện tiêu diệt trứng giun sán và vi khuẩn gây bệnh), chỉ có 19,8% hộ tuân thủ đúng quy trình ủ phân từ 6 tháng trở lên.

Thứ tư, điều kiện kinh tế và trình độ học vấn là hai yếu tố chi phối mạnh mẽ đến khả năng tiếp cận vệ sinh. Nhóm hộ nghèo có tỷ lệ sở hữu nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh chỉ đạt 18,6%, thấp hơn nhiều so với mức 35,3% ở nhóm không nghèo. Tương tự, nhóm có trình độ cao đẳng, đại học đạt tỷ lệ tiếp cận 50,0%, trong khi nhóm không biết chữ chỉ đạt 14,3%. Về mặt thái độ, có 65,7% hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh bày tỏ dự định xây mới; và có tới 83,4% số hộ sẵn sàng xây dựng ngay nếu được hỗ trợ vay vốn không tính lãi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh đạt chuẩn chỉ đạt 11,8% bắt nguồn từ việc người dân tự xây dựng thiếu theo dõi kỹ thuật, dẫn đến các lỗi phổ biến như bể chứa bị rạn nứt, thấm lậu nước thải ra môi trường, thiếu ống thông hơi hoặc bệ xí không có nút ngăn mùi. Trong quá trình sử dụng, tình trạng thiếu nước dội, sàn nhà tiêu ẩm ướt và không che chắn kín đã làm mất đi tính an toàn sinh học của công trình.

So sánh với cuộc Điều tra Y tế Quốc gia năm 2006 (tỷ lệ nhà tiêu đạt chuẩn Quyết định 08/2005/QĐ-BYT là 18%) và nghiên cứu của Lê Văn Chính năm 2005 tại một số tỉnh phía Bắc (tỷ lệ đạt chuẩn 7,68%), kết quả tại Chương Mỹ phản ánh đúng bức tranh chung của khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ thời điểm năm 2009. Sự khác biệt giữa các xã vùng đồi gò và chiêm trũng cũng thể hiện đặc tính kinh tế: xã Hữu Văn có tỷ lệ tiếp cận nhà tiêu tự hoại cao hơn (29,6% so với 4,0% ở xã Hoàng Văn Thụ), trong khi xã Hoàng Văn Thụ lại có nhu cầu sử dụng phân bón nông nghiệp cao hơn dẫn đến thói quen lưu trữ phân tươi.

Để chuyển tải các dữ liệu phức tạp này một cách trực quan, các báo cáo chuyên ngành nên trình bày thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu 3 nhóm tiêu chí (loại hình công trình, tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn sử dụng), kết hợp biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ tuân thủ thời gian ủ phân và bảng ma trận chéo kiểm định mối tương quan giữa thu nhập với khả năng tiếp cận công trình vệ sinh đạt chuẩn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu thập được, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm nâng cao tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh tại địa phương:

Thứ nhất, thiết lập cơ chế tín dụng vi mô hỗ trợ hộ gia đình xây dựng công trình vệ sinh. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ triển khai gói vay ưu đãi không lãi suất dành riêng cho hộ nghèo và cận nghèo, giải quyết nút thắt tài chính cho 83,4% hộ có nhu cầu, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh toàn huyện đạt 70% vào cuối năm 2010.

Thứ hai, đổi mới toàn diện chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe thay đổi hành vi. Trung tâm Y tế dự phòng huyện và Trạm Y tế các xã cần đa dạng hóa kênh truyền thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt thôn xóm và câu lạc bộ phụ nữ; tập trung tuyên truyền kỹ thuật ủ phân tối thiểu 6 tháng, tác hại của việc dùng phân tươi và tầm quan trọng của việc rửa tay bằng xà phòng, phấn đấu đạt 85% người dân có kiến thức đúng về vệ sinh môi trường trong giai đoạn 2009-2010.

Thứ ba, chuẩn hóa hướng dẫn kỹ thuật xây dựng phù hợp với điều kiện địa hình từng vùng. Phòng Y tế và Phòng Tài nguyên Môi trường huyện cung cấp miễn phí các mẫu thiết kế chuẩn theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT (ưu tiên mẫu tự hoại cải tiến cho vùng ngập nước và mẫu hai ngăn sinh thái cho vùng sản xuất nông nghiệp), tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ thợ xây địa phương nhằm bảo đảm 100% công trình xây mới đạt chuẩn kỹ thuật.

Thứ tư, tăng cường giám sát liên ngành và lồng ghép tiêu chí vệ sinh vào phong trào thi đua văn hóa. Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia cấp xã phối hợp cùng Hội Phụ nữ và Hội Nông dân tổ chức kiểm tra định kỳ 6 tháng/lần tình trạng bảo quản nhà tiêu hộ gia đình; đưa chỉ tiêu tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh vào tiêu chuẩn xét công nhận Làng văn hóa theo tinh thần Thông tư 02/2003/TT-BYT của Bộ Y tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao và là tài liệu tham khảo đắt giá cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về khoảng cách giữa tỷ lệ hình thức và chất lượng thực tế, giúp các nhà quản lý điều chỉnh chiến lược phân bổ nguồn vốn trong Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, cân đối hợp lý giữa hợp phần cấp nước và hợp phần vệ sinh hộ gia đình.
  • Chính quyền địa phương và cán bộ y tế cơ sở: Cung cấp bộ công cụ khảo sát, phiếu điều tra và bảng kiểm thực địa chuẩn hóa theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT, giúp trạm y tế xã và trung tâm y tế dự phòng dễ dàng ứng dụng để giám sát, đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường tại địa bàn đồi gò và đồng bằng trũng.
  • Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng và Khoa học Môi trường: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang phối hợp định tính, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn và phương pháp xử lý dữ liệu dịch tễ học môi trường bằng phần mềm chuyên dụng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển cộng đồng (lĩnh vực Nước sạch - Vệ sinh - Sức khỏe): Cung cấp các phân tích định tính sâu sắc về rào cản hành vi, tập quán sử dụng phân người và nhu cầu tín dụng vệ sinh, hỗ trợ đắc lực cho việc thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật và can thiệp cộng đồng tại nông thôn miền Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu rất cao nhưng tỷ lệ đạt chuẩn hợp vệ sinh lại ở mức thấp?

Khảo sát chỉ ra 94,1% hộ có nhà tiêu nhưng đa phần là hố xí cầu tro, một ngăn tạm bợ chiếm 66,6%. Tỷ lệ nhà tiêu thuộc loại hình hợp vệ sinh chỉ đạt 27,5% và chỉ 11,8% đạt chuẩn toàn diện theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT do người dân tự xây dựng sai quy cách kỹ thuật, thiếu nước dội, sàn ứ đọng và bảo quản chưa bảo đảm vệ sinh.

Tiêu chuẩn ủ phân người an toàn trong canh tác nông nghiệp được quy định như thế nào?

Theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, phân người sử dụng trong nông nghiệp bắt buộc phải trải qua quá trình ủ hoai mục kỵ khí trong thời gian tối thiểu từ 6 tháng trở lên. Quy trình này tạo điều kiện cho nhiệt độ và hệ vi sinh vật ủ tiêu diệt triệt để các loại mầm bệnh nguy hiểm như vi khuẩn tả, thương hàn, virus và trứng giun sán trước khi bón cho cây trồng.

Đâu là rào cản lớn nhất khiến người dân nông thôn chưa xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh?

Yếu tố kinh tế đóng vai trò then chốt khi phần lớn các hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh thuộc diện thu nhập thấp dưới 200.000 đồng/người/tháng và thiếu vốn đầu tư ban đầu. Minh chứng là 83,4% số hộ nghèo hoặc đang dùng nhà tiêu không hợp vệ sinh khẳng định sẵn sàng xây dựng mới nếu được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi không tính lãi.

Địa hình đồi gò và chiêm trũng ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn mô hình nhà tiêu?

Vùng đồi gò như xã Hữu Văn có tỷ lệ lựa chọn nhà tiêu tự hoại cao hơn (chiếm 29,6%) do đất đai cao ráo, thuận tiện thoát nước. Ngược lại, vùng chiêm trũng như xã Hoàng Văn Thụ có nguy cơ ngập lụt cao và nhu cầu bón ruộng lớn nên tỷ lệ dùng hố xí truyền thống cao hơn (86,5%), đòi hỏi các giải pháp nhà tiêu Biogas (12,9% dự định xây) hoặc nhà tiêu hai ngăn nâng cao đáy bể.

Mô hình hai rào chắn trong kiểm soát dịch bệnh đường tiêu hóa hoạt động như thế nào?

Mô hình F-diagram thiết lập 2 tầng ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm: rào chắn thứ nhất là xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh để cô lập và xử lý triệt để chất thải ngay tại nguồn, ngăn không cho mầm bệnh phát tán ra môi trường nước và đất; rào chắn thứ hai là thực hành vệ sinh cá nhân, đặc biệt là rửa tay bằng xà phòng để triệt tiêu đường truyền bệnh qua tiếp xúc.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn cảnh và chân thực về thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn tại huyện Chương Mỹ năm 2009 với cỡ mẫu 407 hộ gia đình và 20 cuộc phỏng vấn sâu.
  • Kết quả chỉ rõ khoảng cách lớn giữa tỷ lệ sở hữu nhà tiêu hình thức (94,1%) và tỷ lệ đạt chuẩn vệ sinh thực tế theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT (chỉ 11,8%), cảnh báo nguy cơ ô nhiễm môi trường tiềm ẩn.
  • Tập quán canh tác sử dụng phân tươi chưa qua ủ đủ 6 tháng (74,4%) cùng các hạn chế về kiến thức phòng bệnh là nguyên nhân trực tiếp duy trì gánh nặng bệnh tật đường tiêu hóa tại địa phương.
  • Yếu tố thu nhập và trình độ học vấn tác động trực tiếp đến hành vi vệ sinh; giải pháp cung cấp tín dụng ưu đãi không lãi suất nhận được sự đồng thuận của 83,4% hộ dân có nhu cầu.
  • Luận văn cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách can thiệp kịp thời trong giai đoạn 2009-2010 nhằm hiện thực hóa mục tiêu 70% hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh.

Về định hướng tiếp theo, kết quả nghiên cứu cần được phổ biến rộng rãi tới Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp ngay trong quý 4/2009 và triển khai can thiệp đồng bộ vào đầu năm 2010. Các cấp chính quyền địa phương, ngành y tế và toàn thể cộng đồng hãy chung tay đầu tư xây dựng công trình vệ sinh đạt chuẩn, thay đổi thói quen sinh hoạt vì sức khỏe bền vững của gia đình và sự phát triển văn minh của nông thôn Việt Nam.