Luận văn thạc sĩ luận văn thạc sỹ nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành về phòng chống bệnh dại ở người dân tại huyện miền núi nông sơn tỉnh quảng nam năm 2020

Nghiên cứu kiến thức và thái độ phòng chống bệnh dại tại Nông Sơn, Quảng Nam 2020, phân tích nhận thức cộng đồng và biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2020

104
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh dại

Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể gây tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời. Tại Nông Sơn, Quảng Nam, tình hình bệnh dại đã có những diễn biến phức tạp. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kiến thức phòng chống bệnh dại của người dân. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ người dân hiểu biết về bệnh dại còn hạn chế. Việc nâng cao thái độ phòng chống bệnh dại là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm. Một số biện pháp phòng ngừa như tiêm phòng cho chó mèo, không tiếp xúc với động vật hoang dã được nhấn mạnh trong nghiên cứu.

1.1. Tình hình bệnh dại tại Nông Sơn

Tình hình bệnh dại tại Nông Sơn cho thấy sự gia tăng số ca mắc bệnh trong những năm gần đây. Nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của bệnh dại không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn gây thiệt hại về kinh tế. Các số liệu cho thấy, nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về thông tin về bệnh dại. Việc thiếu hiểu biết này dẫn đến những hành vi không an toàn, như không tiêm phòng cho thú cưng. Cần có các chiến lược truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức của người dân về bệnh dại.

II. Kiến thức và thái độ của người dân

Nghiên cứu đã khảo sát nhận thức về bệnh dại của người dân tại Nông Sơn. Kết quả cho thấy, mặc dù có một số người dân có kiến thức cơ bản về bệnh dại, nhưng vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ về các triệu chứng và cách phòng ngừa. Thái độ phòng chống bệnh dại của người dân cũng chưa thực sự tích cực. Nhiều người vẫn có thói quen nuôi thú cưng mà không tiêm phòng. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp từ các cơ quan chức năng để nâng cao hành vi phòng chống bệnh dại. Một số người dân cho rằng việc tiêm phòng là không cần thiết, điều này cần được thay đổi thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe.

2.1. Hành vi thực hành phòng chống bệnh dại

Hành vi thực hành phòng chống bệnh dại của người dân tại Nông Sơn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu cho thấy, chỉ một phần nhỏ người dân thực hiện việc tiêm phòng cho thú cưng. Việc thiếu thông tin và chiến lược phòng chống bệnh dại hiệu quả đã dẫn đến tình trạng này. Một số người dân cho rằng việc tiêm phòng là tốn kém và không cần thiết. Cần có các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ người dân trong việc tiêm phòng cho thú cưng. Các chương trình truyền thông cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa bệnh dại để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

III. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh dại

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số biện pháp phòng chống bệnh dại được đề xuất. Đầu tiên, cần tăng cường thông tin về bệnh dại thông qua các chương trình truyền thông. Các cơ quan chức năng cần phối hợp với cộng đồng để tổ chức các buổi tuyên truyền về biện pháp phòng chống bệnh dại. Thứ hai, cần có chính sách hỗ trợ tiêm phòng cho thú cưng, đặc biệt là ở những vùng khó khăn. Cuối cùng, việc xây dựng chiến lược phòng chống bệnh dại dài hạn là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng. Những biện pháp này không chỉ giúp nâng cao kiến thức phòng chống bệnh dại mà còn thay đổi thái độ phòng chống bệnh dại của người dân.

3.1. Tăng cường giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phòng chống bệnh dại. Cần có các chương trình giáo dục định kỳ để nâng cao kiến thức phòng chống bệnh dại cho người dân. Các hoạt động như hội thảo, buổi nói chuyện chuyên đề có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về tình hình bệnh dại và các biện pháp phòng ngừa. Việc nâng cao nhận thức sẽ giúp người dân có hành vi phòng chống bệnh dại tích cực hơn, từ đó giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ luận văn thạc sỹ nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành về phòng chống bệnh dại ở người dân tại huyện miền núi nông sơn tỉnh quảng nam năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BỆNH DẠI 1. Bệnh dại Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm do vi rút dại gây nên. Bệnh lây truyền từ động vật sang người chủ yếu qua vết cắn của động vật mắc bệnh, ở Việt Nam chủ yếu là chó.

Bệnh dại biểu hiện viêm não tuỷ cấp tính, đặc biệt là biểu hiện viêm hành tuỷ, cuối cùng dẫn đến tử vong nếu chưa thu được miễn dịch trước khi phát bệnh [2], [5], [8], [13], [39], [40], [41]. Tác nhân gây bệnh Vi rút dại thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssa virus, vi rút hình đầu đạn, mang ARN sợi đơn mã âm tính. Vi rút không chịu được pH dưới 3 hoặc trên 11 và bị bất hoạt bởi tia cực tím, ánh sáng mặt trời, làm khô và phơi nhiễm với formalin, phenol, ether, trypsin, β-propiolacton và các chất tẩy rửa [2], [5], [8], [13], [40], [41]. Vi rút dại có sức đề kháng yếu trong thiên nhiên.

Ở nhiệt độ 56oC, vi rút dại bị vô hoạt trong 30 phút, ở 80 oC trong 2 phút. Vi rút mất độc lực dưới ánh sang và các chất sát trùng ở nồng độ 2-5%. Các chất tẩy rửa như nước xà phòng (bột giặt) có thể tiêu hủy vi rút dại ở vết thương do hòa tan lớp vỏ lipoprotein của chúng. Vi rút dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ thể động vật mắc bệnh.

Ở chó, mèo mắc bệnh khi vi rút theo nước bọt ra ngoài cũng không tồn tại được lâu [4]. - Vi rút dại đường phố: Vi rút dại phân lập từ mô thần kinh của động vật mắc bệnh trong điều kiện thiên nhiên được gọi là vi rút dại đường phố với đặc điểm thời kỳ ủ bệnh dài, khả năng gây bệnh cao [40], [41]. - Vi rút dại cố định: Sau khi cấy truyền nhiều lần trên não của động vật thí nghiệm, vi rút dại được gọi là vi rút dại cố định với đặc điểm có thời gian ủ bệnh ngắn, gây bệnh cảnh bại liệt trên động vật nhưng mất khả năng gây bệnh cho người nên được sử dụng để sản xuất vắc xin [40], [41]. Sự lây truyền Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương.

Khi đến thần kinh trung ương, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt [4], [5], [8], [13], [38]. Một số trường hợp rất hiếm, bệnh có thể lây truyền qua đường niêm mạc do tiếp xúc hoặc hít phải không khí giọt nhỏ chứa vi rút dại trong hang dơi, tai nạn ở phòng thí nghiệm hoặc do ghép giác mạc. Nhiễm bệnh dại từ người qua người rất hiếm gặp. Về mặt lý thuyết, bệnh dại có thể khởi đầu từ nước bọt bệnh nhân sang người tiếp xúc, nhưng trên thực tế chưa bao giờ ghi nhận được cách truyền bệnh này [5], [8], [13], [16], [38].

Nguồn bệnh Động vật máu nóng vừa là ổ chứa vừa là vectơ lây truyền bệnh. Các động vật này có thể là chó, mèo, cáo, chó sói, chó rừng, chồn hôi, gấu mèo, dơi… [2]. Các nguồn truyền bệnh dại hay gặp: - Dại đường phố: do chó thả rông. - Dại hoang dã: do cáo (châu Âu), gấu mèo (Mỹ), chồn (Nam Phi), gấu (Rumani).

- Dại của dơi: do dơi hút máu (Trung-Nam Mỹ), dơi ăn quả và côn trùng (trên khắp thế giới) [8], [13]. Sinh bệnh học Sau khi xâm nhập vào cơ thể qua cắn, vi rút dại tồn tại gần vết cắn và nhân lên trong các tế báo cơ trong suốt thười gian ủ bệnh. Sau đó, vi rút di chuyển hướng tâm trong sợ trục của tế bào thần kinh ngoại biên phân bố tại các cơ này để đến tủy sống, nao bộ. Ngay khi xâm nhập hệ thần kinh trung ương, vi rút nhanh chóng lan tỏa khắp chất xám thông qua các liên kết giữa các tế bào thần kinh.

Sau đó, vi rút di chuyển ly tâm theo các dây thần kinh h ngoại biên để đến các mô, gồm tuyến nước bọt, gan, cơ, da, tuyến thượng thận và tim. Nghiên cứu mô học cho thấy phản ứng viêm nhẹ xảy ra tại hệ thần kinh trung ương, với thâm nhiễm tế bào đơn nhân tại lớp màng mềm, quanh mạch máu và nhu mô não, nhưng những biến đổi thoái hóa và chết của các tế bào thần kinh đã gây nên biểu hiện lâm sàng [8], [13], [16]. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH DẠI 1. Đặc điểm bệnh dại động vật Bệnh dại lây cho súc vật qua đường tiếp xúc như các vết cắn, xây xát, cào.

Sau khi động vật bị nhiễm vi rút quá trình ủ bệnh có thể lên tới từ 20- 30 ngày. Trong số các loài vật nuôi, chó mèo, trâu bỏ, lợn, ngựa. thường là những loài bị dại, trong đó chó/mèo là loài gây nhiều nguy hiểm hơn vì thường hay cáo, cắn người [5], [35]. Các triệu chứng biểu hiện ở chó/mèo bị bệnh dại được phân loại làm hai thể là thể điên cuồng và thể câm [2], [5].

- Thể dại điên cuồng: Biểu hiện rất rõ nét như vồn vã hơn với chủ, dễ bị kích động, chó/mèo tăng động, sủa, phản ứng nhạy cảm với tiếng động, kích động khi chủ gọi. Con vật thường tự cắn, cào hoặc tự liếm đến khi chảy máu, rụng lông do bị ngứa nơi vết thương. Các biểu hiện khác thường gặp như chán ăn, lên cơn sốt, mở to mắt, giãn đồng tử, khát nước nhưng không uống nước được [4], [35]. - Thể dại câm: các ca mắc dại thể này thường không có nhiều triệu chứng, gần như khác hẳn với thể dại điên cuồng.

Một số biểu hiện có thể có như buồn rầu, mồm luôn mở và thè lưỡi, trễ hàm, chảy nước dãi và bại một phần cơ thể như hai chi sau. Con vật chỉ gầm gừ mà không sủa hay cắn [4]. Đặc điểm về bệnh dại trên người Theo ICD-10, bệnh dại ở người được ký hiệu là A82. Bệnh này có quá trình ủ bệnh thường khoảng từ 2-8 tuần, thậm chí có thể dài trên 2 năm.

Tình trạng vết thương hay khoảng cách từ não đến vết thương ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian gian ủ bệnh. Vết cắn ở các vùng ít dây thần kinh thì có quá trình ủ bệnh dài; vết cắn ở các bộ phận tập trung nhiều dây thần kinh thì có thời gian ủ bệnh ngắn hơn [8], [13]. Trong giai đoạn khởi phát, người bệnh rất dễ dàng ở vào tình trạng kích thích, hồi hộp, mất ngủ, căng thẳng. Một số người bệnh có thể gặp các triệu chứng khác (hiếm hơn) như đau họng, run rẩy, ho, buồn nôn, đau quặn bụng.

Thời kỳ bệnh toàn phát tiến triển thành một trong hai thể: Hung dữ hoặc bại liệt. Ở thể hung dữ, bệnh nhân sợ nước, hốt hoảng, tăng kích thích khi thử cho uống nước hoặc nghe tiếng nước chảy, thậm chí nghe người khác nhắc đến nước cũng có thể lên cơn. Các cơn co ở vùng cơ hô hấp và thanh quản diễn ra dữ dội, đột ngột. Bệnh nhân vùng vẫy, ưỡn cổ và lưng ra sau, đứt hơi, thở dồn dập, cắn xé, có thể diễn biến thành co giật toàn thân, hoặc ngừng thở, ngừng tim và có thể tử vong ngay trong cơn dại.

Ngoài ra tăng kích thích ngũ quan như mùi lạ, ánh sáng hoặc gió cũng có thể khiến cho bệnh nhân lên cơn co thắt ngay. Bệnh nhân có thể sốt cao và rối loạn thần kinh thực vật với các triệu chứng giãn đồng tử, lệch đồng tử, tăng tiết dịch (nước mắt, nước bọt, mồi hôi), hạ huyết áp thể đứng. Tình trạng bệnh tiến vào giai đoạn cấp tính đến hôn mê hoặc ngừng thở, ngừng tim đột ngột, thường tử vong trong 2-4 ngày sau cơn dại vì liệt cơ hô hấp [8], [13], [20]. Đối với thể bại liệt, bệnh nhân có khả năng gặp phải hội chứng Landly, có cảm giác hoặc đau tại cột sống hoặc vết cắn, sau đó liệt lan tỏa hướng từ dưới lên trên.

Giai đoạn tử vong ở thể dại này thường xảy ra h chậm hơn thể dại hung dữ, nhanh nhất là sau 2 ngày hoặc muộn hơn 20 ngày sau khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện [8], [20]. Hậu quả nghiêm trọng nhất gây ra bởi vết chó cắn là bệnh dại. Trong 99% trường hợp, chó nhà là tác nhân lây truyền bệnh dại sang người [54]. Tử vong do bệnh đại là 100% [14].

TÌNH HÌNH BỆNH DẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình bệnh dại trên thế giới Hiện nay trên thế giới bệnh dại đang là vấn đề y tế quan trọng gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng [3]. Bệnh dại đang lưu hành hơn 100 nước. Trên toàn thế giới có 3,3 tỷ người đang có nguy cơ mắc bệnh dại, mỗi năm ước tính sơ bộ có 60.000 người chết vì bệnh dại.

Bên cạnh đó mỗi năm có khoảng 15 triệu người phải tiêm vắc-xin phòng dại sau khi tiếp xúc với động vật nghi ngờ. Tại một số quốc gia đang phát triển đã gặp phải vấn đề nghiêm trọng về bệnh dại, gánh nặng kinh tế, phải mất nhiều công sức và tiền của cho những nổ lực loại trừ bệnh dại [8], [12], [45]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 35000 – 59000 tử vong vì bệnh dại. Ngoại trừ Nam Cực, bệnh được phát hiện trên tất cả các châu lục.

Tỉ lệ cao nhất xảy ra ở châu Á và châu Phi, nơi mà bệnh dại có khả năng đe dọa hơn 4,5 tỷ người [51]. Châu Mỹ Latinh và Caribe: Số trường hợp mắc bệnh dại ở người và chó đã giảm đáng kể ở khu vực này do kết quả của việc kiểm soát bền vững [53]. Từ năm 2013 đến năm 2016, bệnh dại ở người do chó lây truyền qua trung gian chỉ được báo cáo ở Bolivia, Brazil, Cộng hòa Dominica, Guatemala, Haiti, Honduras, Peru và Venezuela. Năm 2016, 10 trường hợp tử vong do bệnh dại do chó lây truyền qua trung gian đã được báo cáo ở châu Mỹ: 8 ở Haiti và 2 ở Guatemala, và 23 trường hợp tử vong do bệnh dại ở các loài khác ngoài chó, với 3 ở Brazil, 2 ở Colombia, 1 ở Guatemala, 2 ở Mexico và 15 ở Peru [53].

h Châu Á: Ước tính có khoảng 35.172 trường hợp tử vong ở người (59,6% số ca tử vong toàn cầu) xảy ra mỗi năm ở Châu Á do bệnh dại qua trung gian chó. Ấn Độ là quốc gia có nhiều ca tử vong nhất ở châu Á (59,9% số ca tử vong do bệnh dại ở người) và trên toàn cầu (35% số ca tử vong do bệnh dại ở người) [53]. Châu Phi: Ở Châu Phi, ước tính có khoảng 21.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu kiến thức và thái độ phòng chống bệnh dại tại Nông Sơn, Quảng Nam 2020 là một tài liệu quan trọng, tập trung vào việc đánh giá nhận thức và hành vi của người dân địa phương trong việc phòng ngừa bệnh dại. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiểu biết của cộng đồng mà còn đề xuất các biện pháp cải thiện hiệu quả công tác phòng chống bệnh dại. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia y tế và những ai quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ thú y phân tích các trường hợp chó mèo nghi dại sau khi cắn người và đánh giá nhận thức của học sinh về bệnh dại tại tỉnh Long An giai đoạn 2022-2023. Tài liệu này cung cấp góc nhìn chi tiết về các trường hợp nghi dại và nhận thức của học sinh, giúp bạn hiểu rõ hơn về thực trạng và giải pháp phòng chống bệnh dại ở một địa phương khác.