Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Trịnh Thành Tâm, chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên Thiên nhiên, Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (hướng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Minh Cảnh, thực hiện năm 2019) tập trung vào công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho dự án đầu tư công nghiệp nặng và gia công cơ khí.
Dự án “Nhà máy gia công sản xuất thép hình” được triển khai tại Lô E3 và E3', góc giao nhau giữa đường Trần Thủ Độ và đường Ngô Gia Khảm, Khu công nghiệp (KCN) Phúc Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Hạ tầng KCN do Công ty Cổ phần phát triển khu công nghệ Đài Tín (Công ty TNHH Khai phát Đài Tín) đầu tư và kinh doanh, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình phê duyệt báo cáo ĐTM tại Quyết định số 123/QĐ-STNMT ngày 20/01/2015. Dự án được Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mã số 7653130873 (chứng nhận lần đầu ngày 13/06/2017) và mã số 4304315420 (chứng nhận thay đổi lần thứ tám ngày 13/06/2017).
Dự án có tổng diện tích khu đất 26.967,5 m², công suất thiết kế đạt 700 tấn sản phẩm/năm (tương đương 7 triệu sản phẩm/năm), cơ cấu bao gồm 500 tấn sản phẩm thép/năm và 200 tấn sản phẩm nhựa/năm. Khi đi vào vận hành ổn định, nhà máy sử dụng khoảng 500 lao động (485 lao động địa phương và 15 chuyên gia nước ngoài), mức thu nhập bình quân 4.000.000 đồng/người/tháng, doanh thu hàng năm ước đạt 20 tỷ đồng, lợi nhuận 1 tỷ đồng và nộp ngân sách 300 triệu đồng. Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, dự án thuộc đối tượng bắt buộc phải lập báo cáo ĐTM trình Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình thẩm định, phê duyệt trước khi thi công.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 2 nội dung:
- Đánh giá hiện trạng môi trường trong quá trình xây dựng nhà máy gia công sản xuất thép hình.
- Đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và các tác động xấu đến môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc thu thập điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực; đo đạc, phân tích chất lượng môi trường nền (không khí, đất); nhận dạng và tính toán tải lượng các chất thải phát sinh trong giai đoạn thi công xây dựng và giai đoạn vận hành; từ đó xây dựng kế hoạch quản lý, giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó sự cố môi trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước) và các yếu tố kinh tế - xã hội chịu tác động từ hoạt động xây dựng, vận hành của Dự án Nhà máy gia công sản xuất thép hình.
- Phạm vi không gian: Khu đất thực hiện dự án tại Lô E3 và E3' thuộc KCN Phúc Khánh, thành phố Thái Bình. Ranh giới khu đất được xác định qua 5 điểm tọa độ (hệ tọa độ VN-2000, múi chiếu 3°): Điểm 1 (X: 2.261.581; Y: 584.574), Điểm 2 (X: 2.261.570; Y: 584.590), Điểm 3 (X: 2.261.589; Y: 584.726), Điểm 4 (X: 2.261.767; Y: 584.696), Điểm 5 (X: 2.261.748; Y: 584.551). Vùng chịu tác động trực tiếp gồm KCN Phúc Khánh, sông Bạch (cách dự án 350 m về phía Đông) và kênh Ba Ri (cách 700 m về phía Nam). Địa điểm thực tập và tiến hành phân tích mẫu là Viện Kỹ thuật và Công nghệ Môi trường (số 16, ngõ 1141 Giải Phóng, Hoàng Mai, Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu, khảo sát thực địa và phân tích trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa ĐTM của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 1991), Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP, 1990), Ngân hàng Thế giới (WB, 2011), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2009) và Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014. Tác giả vận dụng khung lý thuyết về 10 mục đích và vai trò của ĐTM trong phát triển kinh tế - xã hội trích từ giáo trình của Phạm Ngọc Hồ và Hoàng Xuân Cơ (1999). Quá trình phát triển ĐTM tại Việt Nam được phân tích qua 4 giai đoạn lịch sử: trước ngày 27/12/1993, từ 27/01/1993 đến 01/07/2006, từ 01/07/2006 đến 31/12/2014, và từ 01/01/2015 đến nay (giai đoạn áp dụng Luật Bảo vệ môi trường 2014).
Căn cứ pháp lý và hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng trực tiếp trong nghiên cứu gồm:
- Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, Luật Đất đai số 45/2013/QH13, Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13; các Nghị định của Chính phủ gồm Nghị định số 80/2014/NĐ-CP (thoát nước và xử lý nước thải), Nghị định số 18/2015/NĐ-CP (quy hoạch BVMT, ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT), Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP (quản lý chất thải và phế liệu), Nghị định số 127/2014/NĐ-CP (điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường), Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT); các Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư 27/2015/TT-BTNMT, Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, Thông tư 35/2015/TT-BTNMT, Thông tư 31/2015/TT-BTNMT, Thông tư 43/2015/TT-BTNMT.
- Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối chiếu: QCVN 05:2013/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh), QCVN 26:2010/BTNMT (tiếng ồn), QCVN 27:2010/BTNMT (độ rung), QCVN 03-MT:2015/BTNMT (hàm lượng kim loại nặng trong đất công nghiệp), QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt), QCVN 19:2009/BTNMT (khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ, cột B), QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp), QCVN 50:2013/BTNMT (ngưỡng nguy hại bùn thải), Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh lao động và TCVN 3985:1999.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm 5 phương pháp:
- Phương pháp điều tra, khảo sát, đo đạc lấy mẫu ngoài hiện trường và phân tích phòng thí nghiệm: Thu thập mẫu không khí tại 4 vị trí (KV1 đến KV4) và mẫu đất tại 2 vị trí (Đ1, Đ2) vào ngày 23/01/2019, phân tích theo phương pháp chuẩn (TCVN 5067:1995, TCVN 5971:1995, TCVN 6137:2009, NIOSH 1501, TCVN 8467:2010, TCVN 6496:2009).
- Phương pháp liệt kê: Lập bảng ma trận thể hiện mối quan hệ giữa các công đoạn thi công, sản xuất với các thông số môi trường chịu tác động.
- Phương pháp đánh giá nhanh theo hệ số ô nhiễm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Ước tính tải lượng các chất ô nhiễm không khí (bụi, SO₂, NOₓ, CO, VOCs) từ giao thông và tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (BOD₅, COD, SS, Dầu mỡ, Tổng N, NH₄⁺, Tổng P).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu nồng độ thực tế và nồng độ dự báo với các QCVN hiện hành.
- Phương pháp tổng hợp xây dựng báo cáo: Phân tích, tích hợp các số liệu kỹ thuật, môi trường và kinh tế - xã hội.
Nguồn dữ liệu sử dụng: Dữ liệu quan trắc thực nghiệm của Phòng phân tích môi trường thuộc Viện Kỹ thuật và Công nghệ Môi trường; Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình năm 2018 (số liệu khí tượng, nhiệt độ, độ ẩm); hồ sơ thiết kế kỹ thuật, bản vẽ mặt bằng và thuyết minh dự án đầu tư của chủ đầu tư; Biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty TNHH Công nghiệp Ngũ kim Formosa Việt Nam số 08816/BB-HĐQT-FMS ngày 22/10/2016.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Cấu trúc văn bản khóa luận được tổ chức thành 4 phần nội dung chính, tiếp nối bởi phần kết luận và tài liệu tham khảo:
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài gắn với bối cảnh phát triển sản xuất công nghiệp tại KCN Phúc Khánh, tỉnh Thái Bình; thông tin pháp lý ban đầu của dự án nhà máy cơ khí ngũ kim Fortress và dự án nhà máy sản xuất thép hình công suất 700 tấn/năm. Nêu rõ mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài trên hai phương diện: khoa học đào tạo (rèn luyện phương pháp luận ĐTM) và thực tiễn quản lý (cung cấp cơ sở khoa học giúp cơ quan nhà nước kiểm soát nguồn thải).
Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Cung cấp tổng quan toàn diện về khái niệm ĐTM theo luật pháp Việt Nam và các tổ chức quốc tế; phân tích 10 vai trò cốt lõi của ĐTM đối với quy hoạch và phát triển bền vững theo tài liệu sư phạm chuyên ngành. Khái quát lịch sử hình thành ĐTM thế giới từ Đạo luật NEPA (Mỹ, 1969) và sự phổ biến sang các nước châu Á, châu Âu; phân kỳ 4 giai đoạn phát triển thể chế ĐTM tại Việt Nam từ năm 1983 đến nay. Đồng thời, tác giả thẳng thắn chỉ rõ 6 tồn tại lớn trong thực tế ĐTM tại Việt Nam: tình trạng bỏ qua ĐTM, thiếu quy chuẩn đối với tác động không liên quan đến chất thải, dữ liệu môi trường nền chưa đầy đủ, sự tham gia cộng đồng còn hạn chế, năng lực cán bộ cấp huyện còn yếu và sự phối hợp lỏng lẻo giữa chủ dự án với đơn vị tư vấn. Phần này cũng hệ thống hóa đầy đủ các căn cứ pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật và tài liệu kỹ thuật liên quan đến dự án.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định đối tượng nghiên cứu là Dự án Nhà máy gia công sản xuất thép hình tại KCN Phúc Khánh. Quy định phạm vi không gian và thời gian khảo sát thực địa từ tháng 01 đến tháng 05/2019. Mô tả chi tiết 5 phương pháp nghiên cứu được vận dụng để nhận dạng tác động, lấy mẫu hiện trường, tính toán tải lượng ô nhiễm theo hệ số WHO và xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, gồm 4 nhóm nội dung lớn:
- Điều kiện tự nhiên khu vực dự án: Mô tả vị trí địa lý tại Lô E3+E3', tiếp giáp sông Bạch (cách 350 m) và kênh Ba Ri (cách 700 m). Địa tầng khu vực nghiên cứu gồm trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo và Đệ Tứ, từ trên xuống gồm: lớp đất lấp á sét màu vàng nhạt (dày 0,6–1,0 m), lớp cát bụi bão hòa nước màu xám tro chứa tạp chất hữu cơ (dày 3,9–5,0 m), và lớp kẹp cát bụi xám tro (dày 0,7 m). Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ không khí trung bình năm 2018 là 23,9°C (cao nhất tháng 7 đạt 29,4°C, thấp nhất tháng 1 là 15,4°C); độ ẩm trung bình năm 2018 đạt 87,07% (cao nhất vào tháng 1 và 2 đạt 92%, thấp nhất tháng 6 đạt 81%).
- Hiện trạng chất lượng môi trường nền: Công bố kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí tại 4 vị trí đo và chất lượng đất tại 2 vị trí lấy mẫu ngày 23/01/2019. Toàn bộ các chỉ tiêu bụi, khí độc và kim loại nặng trong đất đều nằm dưới ngưỡng quy chuẩn cho phép.
- Đánh giá, dự báo tác động môi trường:
- Giai đoạn chuẩn bị: Dự án nằm trên khu đất hạ tầng sẵn có tại Lô E3+E3' nên không phát sinh công tác đền bù giải phóng mặt bằng; tạo ra các giá trị tích cực về kinh tế - xã hội.
- Giai đoạn thi công xây dựng: Dự báo các tác động tiêu cực đến trật tự an ninh xã hội, an toàn giao thông trên đường Trần Thủ Độ; tính toán tải lượng bụi phát tán từ phương tiện vận tải (khoảng 30 kg/ngày đêm), khí thải phương tiện (0,87 kg/giờ), nước thải sinh hoạt của 20 công nhân (2 m³/ngày với nồng độ BOD₅ vượt 18,75–22,5 lần, SS vượt 11,2–36,25 lần quy chuẩn), chất thải rắn sinh hoạt (10 kg/ngày), chất thải rắn sản xuất thông thường (10 kg/ngày), chất thải nguy hại (5 kg giẻ lau dính dầu mỡ/ngày); đánh giá mức ồn của các máy móc thi công (xe tải 7 tấn, xe nâng, máy xúc, máy cẩu) theo khoảng cách từ 2 m đến 200 m và dự báo rủi ro tai nạn lao động.
- Giai đoạn vận hành: Nhận dạng nguồn ô nhiễm từ 16 công đoạn hoạt động (nhập liệu, dập đột, xử lý nhiệt tôi dầu/tôi nước, mài khô/mài nước, đánh bóng cát hạt gang, buồng phun sơn tĩnh điện, sấy sản phẩm, tẩy rửa siêu âm, ép nhựa nguyên sinh từ Đài Loan, hàn xì...). Tính toán tải lượng ô nhiễm từ phương tiện vận tải (10 lượt xe <3,5 tấn/ngày, chạy 500 km/ngày). Tính toán phát thải buồng sấy dùng khí gas LPG (HC: 5–37 mg/m³, NOₓ: 0,6–3,3 mg/m³, CO: 38–103 mg/m³). Xác định lượng chất thải từ xưởng sơn (dung môi thải 60 kg/năm, cặn sơn 200 kg/năm, vỏ thùng sơn kim loại 20 kg/năm). Tính toán lưu lượng nước thải sinh hoạt của 500 cán bộ công nhân viên (40 m³/ngày) kèm bảng nồng độ các chất ô nhiễm chưa qua xử lý.
- Biện pháp giảm thiểu và phòng ngừa sự cố: Đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể như hệ thống buồng phun sơn kín với khí nén áp suất cao, quạt hút, màng chắn bụi, tháp hấp phụ bằng than hoạt tính kết hợp phun nước dập bụi tuần hoàn; hộp thu bụi mài khô cấu tạo bằng sắt tấm bịt kín; mô hình thông gió cưỡng bức cục bộ xưởng hàn và xưởng ép nhựa; sơ đồ phân luồng mạng lưới thoát nước mưa chảy tràn và thu gom nước thải sinh hoạt riêng biệt.
Kết quả và đóng góp
Số liệu hiện trạng môi trường nền
Kết quả quan trắc thực địa môi trường không khí xung quanh tại 4 vị trí (KV1 đến KV4) và môi trường đất tại 2 vị trí (Đ1: góc Đông Nam, Đ2: góc Tây Bắc) vào ngày 23/01/2019 cho thấy môi trường nền khu vực chưa bị ô nhiễm:
| Thông số quan trắc |
Đơn vị |
KV1 |
KV2 |
KV3 |
KV4 |
QCVN 05:2013/BTNMT / QCVN 26:2010 |
| Nhiệt độ |
°C |
21,8 |
22,2 |
22,3 |
22,1 |
– |
| Độ ẩm |
% |
63,2 |
63,3 |
63,1 |
63,1 |
– |
| Tốc độ gió |
m/s |
0,11 |
0,12 |
0,11 |
0,13 |
– |
| Tiếng ồn |
dBA |
58,5 |
58,6 |
56,3 |
56,4 |
70,0 |
| Bụi lơ lửng tổng số (TSP) |
µg/m³ |
181 |
183 |
151 |
153 |
300 |
| SO₂ |
µg/m³ |
279 |
273 |
261 |
267 |
350 |
| NO₂ |
µg/m³ |
161 |
159 |
150 |
147 |
200 |
| CO |
µg/m³ |
13.511 |
13.511 |
13.511 |
13.511 |
30.000 |
| Hydrocacbon (HC) |
µg/m³ |
22,3 |
22,4 |
19,2 |
19,5 |
– |
Kết quả phân tích kim loại nặng trong đất công nghiệp theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT:
| Kim loại nặng |
Đơn vị |
Mẫu Đ1 |
Mẫu Đ2 |
Quy chuẩn cho phép (Đất công nghiệp) |
| Asen (As) |
mg/kg |
8,38 |
8,41 |
25 |
| Cadimi (Cd) |
mg/kg |
1,32 |
1,41 |
10 |
| Chì (Pb) |
mg/kg |
17,19 |
18,42 |
300 |
| Crom (Cr) |
mg/kg |
35,21 |
32,89 |
250 |
| Đồng (Cu) |
mg/kg |
10,08 |
10,03 |
300 |
| Kẽm (Zn) |
mg/kg |
21,38 |
20,13 |
300 |
Số liệu dự báo nguồn thải và tải lượng ô nhiễm
1. Giai đoạn thi công xây dựng:
- Bụi và khí thải giao thông: Tính theo mô hình WHO với giả thiết 5 lượt xe/giờ, tải trọng 7 tấn, vận tốc 5 km/h, quãng đường 200 m. Bụi phát tán đạt khoảng 30 kg/ngày đêm; tổng tải lượng khí thải phương tiện phát sinh đạt 0,87 kg/giờ, ảnh hưởng trong bán kính 100–200 m.
- Nước thải sinh hoạt: 20 công nhân tiêu thụ định mức 100 lít/người/ngày (làm việc 8 giờ, không tắm giặt tại chỗ), hệ số thải 80%, phát sinh 2 m³/ngày. Tải lượng ô nhiễm: BOD₅ đạt 450–540 g/ngày (nồng độ 562,5–675 mg/l, vượt 18,75–22,5 lần QCVN 14:2008/BTNMT cột A); COD đạt 720–1020 g/ngày (nồng độ 900–1.812,5 mg/l); SS đạt 700–1450 g/ngày (vượt 11,2–36,25 lần); NH₄⁺ đạt 24–48 g/ngày (vượt 6–12 lần).
- Chất thải rắn: Rác sinh hoạt phát sinh 10 kg/ngày (định mức 0,5 kg/người/ngày); phế thải xây dựng và bao bì lắp đặt 10 kg/ngày; chất thải nguy hại (giẻ lau dính dầu) phát sinh 5 kg/ngày.
- Mức ồn thiết bị cơ giới: Xe tải 7 tấn gây ồn 83–94 dBA ở khoảng cách 2 m và giảm xuống 62–73 dBA ở khoảng cách 200 m; máy xúc đạt 72–84 dBA ở 2 m và 50–63 dBA ở 200 m.
2. Giai đoạn vận hành nhà máy:
- Khí thải giao thông: 10 lượt xe (<3,5 tấn)/ngày với quãng đường 50 km/chuyến (tổng 500 km/ngày). Tải lượng phát thải tính theo WHO: Bụi: 0,1 kg/ngày; SO₂: 0,00145 kg/ngày (với hàm lượng lưu huỳnh S = 0,25%); NOₓ: 0,35 kg/ngày; CO: 0,5 kg/ngày; VOCs: 0,075 kg/ngày.
- Khí thải lò sấy bằng gas LPG (nhiệt độ đến 450°C): Khí đốt LPG sinh ra nồng độ HC từ 5–37 mg/m³, NOₓ từ 0,6–3,3 mg/m³ (thấp hơn nhiều so với giới hạn 850 mg/m³ theo QCVN 19:2009/BTNMT cột B), CO từ 38–103 mg/m³ (giới hạn cho phép là 1.000 mg/m³).
- Chất thải từ công đoạn sơn phủ: Tỷ lệ sơn bám sản phẩm 85%, hao hụt rơi xuống 15%. Lượng cặn sơn phát sinh 200 kg/năm; dung môi hữu cơ bay hơi và thải bỏ (xylen, toluene, butyl axetat, cyclohexanol axeton) khoảng 60 kg/năm; vỏ thùng sơn kim loại thải bỏ khoảng 20 kg/năm.
- Nước thải sinh hoạt giai đoạn vận hành: 500 CBCNV (định mức 100 lít/người/ngày, hệ số thải 80%) thải ra 40 m³/ngày. Nồng độ ô nhiễm thô: BOD₅ (562,5–675 mg/l), COD (900–1.275 mg/l), SS (875–1.812,5 mg/l), dầu mỡ (125–375 mg/l), N-tổng (75–150 mg/l), NH₄⁺ (30–60 mg/l), P-tổng (10–50 mg/l).
Giải pháp và đóng góp của đề tài
Tác giả đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật bám sát quy trình công nghệ gia công kim loại và nhựa:
- Xử lý bụi và khí thải: Thiết kế buồng phun sơn kín dùng khí nén áp lực cao, trang bị quạt hút, màng chắn bụi, tháp hấp phụ dung môi bằng than hoạt tính định kỳ thay thế kết hợp màng nước dập bụi tuần hoàn; các máy mài khô được bọc kín bằng vỏ sắt tấm để bụi kim loại tự sa lắng; xưởng ép nhựa (nhựa nguyên sinh hạt/bột nhập khẩu Đài Loan) và xưởng hàn xì (hàn sản phẩm cào 11 răng, xẻng bầu) được bố trí hệ thống thông gió cưỡng bức cục bộ.
- Xử lý nước thải và chất thải rắn: Xây dựng hệ thống thu gom nước mưa chảy tràn riêng biệt; nước thải sinh hoạt dẫn về bể tự hoại trước khi đấu nối mạng lưới KCN; thu gom riêng chất thải nguy hại (giẻ lau dầu, dung môi thải, cặn sơn, vỏ thùng sơn) bàn giao đơn vị có chức năng xử lý theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT.
- Đóng góp khoa học: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chi tiết về hiện trạng không khí và đất tại KCN Phúc Khánh đầu năm 2019; lượng hóa cụ thể các dòng thải cho một nhà máy cơ khí kết hợp nhựa công suất 700 tấn/năm làm căn cứ phục vụ thẩm định cấp phép môi trường tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận và tác giả đã chỉ ra một số mặt hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện nghiên cứu:
- Công tác ĐTM tại thời điểm nghiên cứu gặp khó khăn do thiếu hệ thống quy chuẩn kỹ thuật đối với các tác động không liên quan đến chất thải (tiếng ồn, độ rung lan truyền và tác động xã hội phức tạp).
- Dữ liệu về sức chịu tải môi trường tiếp nhận tại khu vực KCN Phúc Khánh chưa được điều tra toàn diện; số lượng vị trí lấy mẫu nền thực tế còn mỏng (chỉ có 4 điểm không khí và 2 điểm đất, chưa có mẫu phân tích chất lượng nước mặt chi tiết của sông Bạch và kênh Ba Ri).
- Báo cáo ĐTM phụ thuộc lớn vào giả định định mức tải lượng lý thuyết của WHO và thiết kế ban đầu của chủ đầu tư, chưa phản ánh đầy đủ các biến động thực tế khi dây chuyền vận hành hết công suất.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở: Tiếp tục thực hiện chương trình giám sát chất lượng môi trường định kỳ sau khi dự án đi vào vận hành chính thức; đo đạc kiểm chứng hiệu quả xử lý thực tế của hệ thống hấp phụ than hoạt tính tại buồng sơn và hệ thống xử lý nước thải công nghiệp/sinh hoạt của nhà máy.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Môi trường, Kinh tế Tài nguyên Thiên nhiên, Quản lý Môi trường: Tài liệu mẫu về cấu trúc trình bày một báo cáo ĐTM hoàn chỉnh theo Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Thông tư 27/2015/TT-BTNMT; phương pháp tổng quan tài liệu và trích dẫn quy chuẩn kỹ thuật.
- Kỹ sư tư vấn môi trường: Cung cấp phương pháp luận và các công thức cụ thể áp dụng hệ số ô nhiễm WHO để tính toán tải lượng phát thải từ giao thông, thi công cơ giới, lò sấy LPG và nước thải sinh hoạt.
- Đơn vị quản lý khu công nghiệp và doanh nghiệp cơ khí: Tham khảo các thông số vận hành buồng phun sơn tĩnh điện, hệ thống thu bụi mài kim loại và phương án kiểm soát chất thải nguy hại đặc thù ngành sản xuất dụng cụ ngũ kim, đồ gia dụng sân vườn.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô diện tích và công suất thiết kế của dự án Nhà máy gia công sản xuất thép hình là bao nhiêu?
Dự án được xây dựng trên diện tích 26.967,5 m² tại Lô E3 và E3' thuộc KCN Phúc Khánh, thành phố Thái Bình. Công suất thiết kế là 700 tấn sản phẩm/năm (tương đương 7 triệu sản phẩm/năm), trong đó sản phẩm thép đạt 500 tấn/năm và sản phẩm nhựa đạt 200 tấn/năm.
2. Chất lượng môi trường không khí nền và đất tại khu vực dự án trước khi xây dựng có đạt chuẩn không?
Kết quả khảo sát ngày 23/01/2019 cho thấy các chỉ tiêu đều đạt chuẩn. Nồng độ bụi lơ lửng (TSP) tại 4 vị trí dao động từ 151 đến 183 µg/m³ (giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT là 300 µg/m³); tiếng ồn từ 56,3 đến 58,6 dBA (chuẩn QCVN 26:2010 là 70 dBA). Các chỉ tiêu kim loại nặng trong đất (As: 8,38–8,41 mg/kg; Cd: 1,32–1,41 mg/kg; Pb: 17,19–18,42 mg/kg; Cr: 32,89–35,21 mg/kg) đều thấp hơn nhiều so với ngưỡng tối đa của QCVN 03-MT:2015/BTNMT đối với đất công nghiệp.
3. Khí thải phát sinh từ lò sấy sản phẩm sử dụng nhiên liệu gì và nồng độ các chất ô nhiễm ra sao?
Lò sấy sản phẩm sử dụng nhiên liệu sạch là khí hóa lỏng LPG (thành phần chính gồm Propane C₃H₈ và Butane C₄H₁₀), nhiệt độ gia nhiệt lên đến 450°C. Nồng độ phát thải gồm HC từ 5–37 mg/m³, NOₓ từ 0,6–3,3 mg/m³ và CO từ 38–103 mg/m³. Các nồng độ này đều thấp hơn rất nhiều so với quy chuẩn QCVN 19:2009/BTNMT cột B (cho phép NOₓ đến 850 mg/m³ và CO đến 1.000 mg/m³).
4. Khối lượng các loại chất thải nguy hại phát sinh chính trong quá trình vận hành xưởng sơn là bao nhiêu?
Trong công đoạn sơn phủ bề mặt sản phẩm, lượng sơn chỉ bám 85%, 15% còn lại rơi xuống tạo ra 200 kg cặn sơn/năm; lượng dung môi hữu cơ bay hơi và thải bỏ phát sinh khoảng 60 kg/năm; lượng vỏ bao bì kim loại dính sơn thải bỏ là 20 kg/năm. Ngoài ra, lớp than hoạt tính lọc hơi dung môi định kỳ phải thay thế cũng là chất thải nguy hại cần thu gom, xử lý theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT.
5. Lượng nước thải sinh hoạt của nhà máy khi đi vào vận hành ổn định là bao nhiêu và được tính toán như thế nào?
Tổng số lao động khi vận hành ổn định là 500 người (485 lao động địa phương, 15 lao động nước ngoài). Với định mức cấp nước sinh hoạt 100 lít/người/ngày (công nhân làm việc theo ca, sinh hoạt tại gia đình) và hệ số phát thải bằng 80% lượng nước cấp, lưu lượng nước thải sinh hoạt phát sinh là 40 m³/ngày (500 người × 100 lít/người/ngày × 80%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Trịnh Thành Tâm đã giải quyết đầy đủ mục tiêu đánh giá hiện trạng môi trường và dự báo các tác động phát sinh từ Dự án Nhà máy gia công sản xuất thép hình tại KCN Phúc Khánh, tỉnh Thái Bình. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ khung pháp lý môi trường hiện hành với các phương pháp đánh giá định lượng, mô hình tính toán phát thải của WHO và dữ liệu phân tích thực nghiệm tại hiện trường. Các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu khí thải sơn, xử lý bụi cơ khí và phân luồng nước thải được đề xuất có tính khả thi kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu của báo cáo ĐTM phục vụ công tác phê duyệt và quản lý môi trường công nghiệp tại địa phương.