Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cát Bà nằm trong quần đảo Cát Bà gồm 367 hòn đảo lớn nhỏ thuộc thành phố Hải Phòng, được UNESCO chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng 12 năm 2004. Với tổng diện tích tự nhiên được quản lý lên tới 17.362,64 ha, bao gồm 10.912,51 ha hợp phần đất liền và 6.450,13 ha hợp phần mặt biển, khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi vô cùng độc đáo. Vườn bảo tồn 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 842 chi, 186 họ cùng 53 loài thú, 160 loài chim và hơn 900 loài cá biển quý hiếm.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của hoạt động du lịch đại chúng trong những năm gần đây đã đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo tồn tài nguyên sinh thái. Mật độ dân cư vùng đệm bình quân đạt 170 người/km2 kết hợp với lượng khách tham quan tăng trưởng nhanh đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, cảnh quan địa chất và cấu trúc xã hội bản địa. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của học viên Trần Quốc Hồng, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Duy Bách tại Trường Đại học Lâm nghiệp, đã tập trung giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn và khai thác du lịch.

Nghiên cứu được triển khai thu thập số liệu thực địa toàn diện trong năm 2017 và hoàn thiện năm 2018. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là lượng hóa các tác động của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên rừng, thổ nhưỡng, nguồn nước và sinh cảnh hoang dã. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học để thiết lập các chỉ số giám sát sinh thái, nâng cao hiệu quả quản trị tại 7 tuyến du lịch trọng điểm và định hình chiến lược phát triển du lịch bền vững cho toàn bộ quần đảo Cát Bà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch sinh thái bền vững do Ceballos-Lascurain đề xuất năm 1987 và được hoàn thiện bởi Buckley vào năm 1999, nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ chiến lược giữa bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ kinh tế cộng đồng. Mô hình nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết sức chứa du lịch (Tourism Carrying Capacity - TCC) nhằm xác định ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái trước áp lực của du khách. Đồng thời, đề tài tích hợp khung phân tích rừng đặc dụng theo quy định tại Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó xác lập 4 chức năng cốt lõi: bảo tồn hệ sinh thái nguyên vẹn, duy trì nguồn gen đặc hữu, nghiên cứu giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái có kiểm soát.

Khung khái niệm chính của luận văn bao gồm: Du lịch sinh thái (DLST), Du lịch bền vững (DLBV), Sức chứa sinh thái và Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Nghiên cứu kế thừa và đối chiếu kinh nghiệm quản trị từ mạng lưới 359 vườn quốc gia tại Châu Âu thông qua tổ chức ENPC và mô hình Cục Vườn quốc gia Hàn Quốc thành lập năm 1987. Tại Việt Nam, nghiên cứu đặt trong bối cảnh hệ thống 30 vườn quốc gia và 115 khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước, nơi diện tích đất lâm nghiệp tại đảo Cát Bà chiếm tỷ trọng 51% trong tổng số 29.831,4 ha diện tích tự nhiên toàn huyện Cát Hải.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp đồng bộ giữa số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2017 từ Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, Chi cục Thống kê huyện Cát Hải và dữ liệu sơ cấp thu thập qua đợt khảo sát thực địa chuyên sâu năm 2017.

Về phương pháp chọn mẫu xã hội học, tác giả áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với tổng quy mô 70 đối tượng phỏng vấn sâu, bao gồm: 30 khách du lịch trong nước và quốc tế tại các điểm dừng chân, 20 cán bộ quản lý thuộc Vườn quốc gia cùng các cơ quan ban ngành huyện Cát Hải, và 20 người dân địa phương thuộc các xã vùng đệm như Gia Luận, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện đa chiều cho các nhóm chủ thể trực tiếp tham gia và chịu tác động từ hoạt động du lịch.

Phương pháp nghiên cứu thực địa sinh thái được thực hiện bằng cách thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) cố định có diện tích 500 m2/ô trên các sinh cảnh núi đá vôi phức tạp để so sánh độ đa dạng thực vật giữa khu vực sát đường mòn du lịch và khu vực cách xa tuyến tham quan. Lượng rác thải sinh hoạt được cân trực tiếp liên tục trong 10 ngày tại các điểm tập kết. Hiện trạng xói mòn, sạt lở được đo đạc chiều dài, độ dốc và ghi nhận tọa độ bằng máy định vị GPS, sau đó số hóa trên nền bản đồ số qua phần mềm MapSource 4.0 và MapInfo 11.5.

Tác giả lựa chọn phương pháp ma trận môi trường bán định lượng (Ma trận Leopold mở rộng) căn cứ theo Nghị định 18/2015/NĐ-CP và Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT. Lý do lựa chọn là ma trận cho phép chấm điểm mức độ tác động (M) từ 0 đến 10, tầm quan trọng (P) từ 1 đến 10 và trọng số môi trường (Pc) từ 0.0 đến 1.0, giúp lượng hóa khách quan các tác động tổng hợp vốn khó đo lường bằng phương pháp định tính đơn thuần. Cuối cùng, phương pháp phân tích ma trận SWOT được sử dụng để xây dựng các giải pháp chiến lược khả thi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động du lịch tạo áp lực lớn lên môi trường tự nhiên. Khảo sát cân đo liên tục trong 10 ngày vào mùa cao điểm cho thấy lượng chất thải rắn tại các điểm tham quan trọng điểm tăng tỷ lệ thuận với lượng du khách, trong đó hơn 70% là rác thải nhựa khó phân hủy như vỏ chai nước, bao bì thực phẩm và túi nilon. Hiện tượng xả rác bừa bãi dọc các tuyến đi bộ trong rừng nguyên sinh diễn ra phổ biến do thiếu thùng rác chuyên dụng và nhân lực thu gom định kỳ.

Thứ hai, công suất khai thác cơ sở lưu trú có sự chênh lệch mùa vụ sâu sắc. Toàn Vườn quốc gia có 2 khu nhà nghỉ chuyên dụng và các điểm cắm trại cho thuê với giá dao động từ 15 đến 40 USD/ngày. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng phòng chỉ đạt từ 15% đến 20% vào các ngày thường trong mùa du lịch (tháng 6 đến tháng 8), trong khi các ngày cuối tuần công suất lại đạt 100%, gây quá tải đột biến cục bộ lên hệ thống cấp thoát nước và hạ tầng dịch vụ.

Thứ ba, hoạt động tham quan gây xáo trộn nghiêm trọng đến cảnh quan địa chất và thảm thực vật. Tại động Trung Trang, tình trạng du khách bẻ gãy, đập phá nhũ đá tự nhiên làm kỷ niệm đã được ghi nhận trực quan. Trên 3 tuyến tham quan chính gồm tuyến Đỉnh Kim Giao - Động Trung Trang, tuyến Giáo dục môi trường và tuyến Ao Ếch - Việt Hải, tác giả đã lập bản đồ xác định hàng loạt điểm sạt lở đất và xói mòn nền đường mòn với độ dốc cao từ 20 đến 35 độ do hoạt động giẫm đạp liên tục của du khách.

Thứ tư, du lịch mang lại nguồn sinh kế rõ rệt nhưng chưa đồng đều cho cộng đồng bản địa. Doanh thu từ dịch vụ lưu trú homestay và ăn uống đóng góp từ 25% đến 40% trong tổng thu nhập của các hộ gia đình tham gia làm du lịch tại xã Trân Châu và Việt Hải. Dẫu vậy, tỷ lệ lao động địa phương được đào tạo chuyên môn về nghiệp vụ du lịch sinh thái đạt chưa tới 18%, phần lớn hoạt động còn mang tính tự phát và bán thời gian.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các tác động tiêu cực bắt nguồn từ sự phát triển nóng của loại hình du lịch đại chúng, tính mùa vụ gay gắt tập trung vào 3 tháng hè và nhận thức bảo vệ môi trường của một bộ phận du khách còn hạn chế. Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác bảo tồn, nghiên cứu thị trường và đào tạo nguồn nhân lực du lịch sinh thái chuyên trách tại Vườn quốc gia Cát Bà còn rất hạn hẹp, dẫn đến tình trạng bộ phận du lịch mới chỉ dừng lại ở mức độ phục vụ tại chỗ.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại Vườn quốc gia Cúc Phương và Bạch Mã, hiện tượng suy thoái đường mòn và xáo trộn sinh cảnh động vật hoang dã do tiếng ồn phương tiện giao thông cũng diễn ra theo quy luật tương tự khi lượng khách vượt ngưỡng chịu tải cục bộ từ 1,5 đến 2 lần. Khi số lượng xe cơ giới tăng nhanh, mức độ phát thải khí và tiếng ồn đã đẩy lùi vùng kiếm ăn của các loài linh trưởng quý hiếm như Voọc Cát Bà vào sâu trong các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa rõ ràng thông qua biểu đồ cột thể hiện sự biến động công suất buồng phòng giữa ngày thường (15 - 20%) và ngày cuối tuần (100%), bảng ma trận môi trường với tổng điểm tác động tiêu cực của rác thải đạt mức -7.8 điểm, cùng hệ thống bản đồ tọa độ GIS minh họa chi tiết các điểm nguy cơ sạt lở dọc tuyến du lịch sinh thái trung tâm Vườn - đỉnh Ngự Lâm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập quy chế kiểm soát sức chứa du lịch và phân luồng du khách sinh thái. Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà cần chủ trì áp dụng hệ thống giới hạn lượng khách tối đa không quá 500 lượt khách/ngày trên tuyến Đỉnh Kim Giao và tuyến Ao Ếch trong giai đoạn 2019 - 2022, nhằm giảm 30% áp lực giẫm đạp và tiếng ồn lên sinh cảnh rừng tự nhiên.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng thu gom và vận hành mô hình xử lý chất thải rắn khép kín. Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường bố trí lắp đặt hệ thống thùng rác phân loại 3 ngăn tại 100% các điểm dừng chân trên 7 tuyến du lịch trước năm 2023, đặt mục tiêu thu gom và tái chế đạt 95% lượng rác thải vô cơ phát sinh trong mùa du lịch cao điểm.

Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm và triển khai chương trình đào tạo sinh kế cộng đồng bền vững. Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng Sở Du lịch Hải Phòng tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng hướng dẫn viên sinh thái, quản trị homestay và diễn giải môi trường cho 150 hộ dân tại các xã vùng đệm như Việt Hải, Gia Luận giai đoạn 2020 - 2024, nhằm nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ du lịch đạt mức 50% tổng thu nhập hộ gia đình.

Thứ tư, thực thi các giải pháp kỹ thuật sinh học chống xói mòn và bảo vệ di sản địa chất. Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà tiến hành lắp đặt rào chắn bảo vệ thạch nhũ tại động Trung Trang và gia cố bậc thang gỗ thoát nước tự nhiên tại 12 điểm sạt lở có độ dốc trên 25 độ dọc tuyến mòn du lịch trong giai đoạn 2020 - 2025, đảm bảo giữ vững 100% tính nguyên vẹn của cảnh quan hang động và thảm phủ thực vật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Ban quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu dự trữ sinh quyển trên toàn quốc. Các nhà quản lý có thể ứng dụng trực tiếp mô hình ma trận đánh giá tác động môi trường và phương pháp định vị GPS để theo dõi, quản trị sức chứa du lịch cho hơn 30 vườn quốc gia tại Việt Nam.

Nhóm thứ hai: Cơ quan quản lý nhà nước như Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng và Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải. Cán bộ hoạch định chính sách có thể sử dụng hệ thống số liệu diện tích 17.362,64 ha và hiện trạng sử dụng đất của luận văn làm căn cứ xây dựng đề án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái biển đảo bền vững.

Nhóm thứ ba: Các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức tour du lịch mạo hiểm và sinh thái. Doanh nghiệp có thể tham khảo dữ liệu về nhu cầu chi tiêu 15 - 40 USD/ngày của du khách và đặc điểm 7 tuyến điểm để thiết kế các sản phẩm du lịch có trách nhiệm, hạn chế tối đa phát thải rác nhựa.

Nhóm thứ tư: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp, Khoa học môi trường và Du lịch học. Luận văn cung cấp phương pháp luận mẫu mực về kết hợp nghiên cứu thực địa ô tiêu chuẩn 500 m2 với công cụ GIS và ma trận định lượng trong nghiên cứu liên ngành.

Câu hỏi thường gặp

Tác động tiêu cực lớn nhất của hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cát Bà là gì? Tác động tiêu cực nổi cộm nhất là sự gia tăng đột biến của rác thải rắn sinh hoạt với hơn 70% là nhựa dùng một lần trong mùa cao điểm, đi kèm tình trạng xâm hại thạch nhũ tại động Trung Trang và hiện tượng xói mòn đất, sạt lở nền đường mòn trên 3 tuyến du lịch trọng điểm do lượng khách vượt ngưỡng chịu tải cục bộ.

Phương pháp ma trận môi trường trong luận văn được vận hành như thế nào? Phương pháp ma trận môi trường Leopold bán định lượng được triển khai theo Thông tư 27/2015/TT-BTNMT. Tác giả chấm điểm mức tác động từ 0 đến 10, gán trọng số tầm quan trọng từ 0.0 đến 1.0 cho từng thành phần môi trường vật lý, sinh vật và kinh tế - xã hội, giúp tính toán chính xác tổng điểm tác động đa chiều của các hoạt động lữ hành, lưu trú.

Tình trạng quá tải du lịch tại Cát Bà diễn ra theo quy luật nào? Quá tải mang tính chất mùa vụ cục bộ sâu sắc, tập trung vào các tháng hè từ tháng 6 đến tháng 8 và đặc biệt nghiêm trọng vào các ngày cuối tuần khi công suất phòng nghỉ đạt 100%, trong khi ngày thường chỉ đạt từ 15% đến 20%, tạo ra áp lực đột ngột lên hệ thống xử lý chất thải và nguồn nước ngầm.

Người dân địa phương ở các xã vùng đệm được hưởng lợi như thế nào từ du lịch sinh thái? Hoạt động du lịch sinh thái mang lại việc làm và đóng góp từ 25% đến 40% thu nhập cho các hộ dân tham gia cung ứng dịch vụ homestay, vận chuyển và ăn uống tại xã Trân Châu, Việt Hải. Tuy nhiên, mức hưởng lợi chưa đồng đều do tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên nghiệp còn dưới 18%.

Luận văn đưa ra giải pháp kỹ thuật nào để ngăn chặn sạt lở trên các tuyến đi bộ trong rừng? Luận văn đề xuất ứng dụng giải pháp công nghệ sinh học kết hợp lắp đặt bậc thang gỗ tự nhiên thoát nước ngầm tại 12 điểm xung yếu có độ dốc trên 25 độ, cắm biển cảnh báo địa hình và ứng dụng bản đồ số GIS MapInfo 11.5 để giám sát liên tục diễn biến xói mòn theo chu kỳ hàng năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý du lịch sinh thái bền vững trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với bảo tồn rừng đặc dụng.
  • Đề tài lượng hóa chi tiết mức độ ảnh hưởng của du lịch đến 17.362,64 ha tài nguyên tại Vườn quốc gia Cát Bà thông qua ma trận môi trường và khảo sát 70 đối tượng mẫu.
  • Công trình đã ứng dụng hiệu quả công nghệ định vị GPS và phần mềm MapInfo 11.5 để lập bản đồ số hóa các điểm sạt lở đất và nguy cơ suy thoái cảnh quan trên 3 tuyến du lịch trọng điểm.
  • Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, xác định rõ chủ thể thực hiện và lộ trình mục tiêu cụ thể giai đoạn 2019 - 2025.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thực tiễn giá trị, làm tài liệu tham khảo chuẩn mực cho hệ thống 30 vườn quốc gia trên toàn quốc trong công tác quản trị tài nguyên sinh thái.

Giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2025 cần tập trung triển khai thực nghiệm hệ thống phân luồng khách tự động và kiểm toán rác thải định kỳ tại các tuyến điểm du lịch sinh thái. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm có thể tiếp tục tham khảo chi tiết toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp để ứng dụng vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học thực tế.