Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đa dạng sinh học là nền tảng bảo đảm sự cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu toàn cầu và sự gia tăng các hoạt động nhân sinh. Hoạt động du lịch sinh thái được xác định là phương thức tiếp cận kép, vừa tạo nguồn lực hỗ trợ bảo tồn vừa thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương. Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) được thành lập theo Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg ngày 29/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ, là vùng đất ngập nước tiêu biểu của Đồng Tháp Mười với thảm thực vật trên 130 loài thực vật bậc cao và là nơi cư trú của loài Sếu đầu đỏ (Grus antigone). Ngày 02/02/2012, Vườn quốc gia Tràm Chim chính thức được công nhận là khu Ramsar thứ 2000 của thế giới.

Tuy nhiên, việc khai thác du lịch sinh thái nếu thiếu kiểm soát sẽ tác động trực tiếp vào các tiến trình sinh thái tự nhiên, gây nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường và đa dạng sinh học. Tại thời điểm nghiên cứu, áp lực du lịch lên công tác bảo tồn của Vườn ngày càng tăng, song vẫn thiếu các đề án và công trình nghiên cứu chuyên sâu đánh giá cụ thể mức độ tác động này. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Văn Tý đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Quản lý môi trường và Du lịch sinh thái tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài: "Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim, Tỉnh Đồng Tháp".

Mục tiêu tổng quát của đề tài là góp phần hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu thực hiện 4 mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Khảo sát hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim.
  2. Xác định các loại tác động và đánh giá nguy cơ tổn hại, suy giảm đa dạng sinh học của hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn.
  3. Đề xuất một số giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
  4. Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái theo hướng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm:

  • Tài nguyên du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim.
  • Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương vùng đệm và Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim.
  • Hoạt động du lịch sinh thái và mối quan hệ tương tác giữa hoạt động du lịch sinh thái, công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với đa dạng sinh học tại Vườn.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung phân tích các tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) của hoạt động du lịch sinh thái đến công tác bảo tồn thiên nhiên tại Vườn quốc gia Tràm Chim, từ đó xây dựng các giải pháp quản lý phù hợp.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Vườn quốc gia Tràm Chim với tổng diện tích tự nhiên 7.313 ha, thuộc địa giới hành chính của thị trấn Tràm Chim và 5 xã (Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp) thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014; các đợt khảo sát thực địa và điều tra xã hội học tập trung vào giai đoạn từ tháng 01/2014 đến tháng 03/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học:

  • Khái niệm du lịch sinh thái theo Hector Ceballos-Lascurain (1987), Honey (1999), Hiệp hội Du lịch sinh thái Quốc tế (TIES), và định nghĩa chung của Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với ESCAP, WWF, IUCN.
  • Khái niệm đa dạng sinh học theo Wilson (1988), Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Điều 3), Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Khoản 16, Điều 3), WWF (1989) và IUCN (1994).
  • Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học từ Từ điển Đa dạng sinh học và Phát triển bền vững (2001), phân định hai phương thức bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn chuyển vị (ex-situ).
  • Lý thuyết về du lịch sinh thái bền vững và nguyên lý xác định sức chứa du lịch (carrying capacity) theo Boullon (1985).

Khung cơ sở pháp lý được tác giả hệ thống hóa gồm: Luật Du lịch; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Quyết định số 83/1992/QĐ-TTg thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim; Quyết định số 47/TTg ngày 02/02/1994; Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg nâng cấp thành Vườn quốc gia Tràm Chim; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý rừng; Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam; Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN ban hành quy chế quản lý du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; Quyết định số 65/QĐ-UB.TL ngày 26/03/2003 của UBND tỉnh Đồng Tháp thành lập Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường; Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/07/2003 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định điều kiện môi trường cho các loại hình du lịch (tiêu chuẩn đi bộ trong rừng: 10 người/km).

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng sau:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập và tổng hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp từ sách báo, bản đồ hiện trạng, tài liệu quản lý của Vườn quốc gia Tràm Chim, tài liệu thống kê kinh tế - xã hội của huyện Tam Nông.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát hiện trạng tài nguyên, môi trường, cơ sở vật chất hạ tầng và các tuyến tham quan du lịch tại Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường cùng các vùng phụ cận từ tháng 02/2014 đến tháng 03/2014.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng bảng câu hỏi: Cỡ mẫu điều tra gồm 100 phiếu, phân bổ cụ thể:
    • Nhóm du khách: 60 phiếu, chọn mẫu ngẫu nhiên tại Vườn quốc gia để thu thập dữ liệu về đặc điểm nhân khẩu, mục đích chuyến đi, mức độ hài lòng về dịch vụ, hạ tầng và nhận thức bảo tồn.
    • Nhóm cộng đồng dân cư: 40 phiếu, phân bổ đều cho các hộ dân tại các xã vùng đệm để tìm hiểu sinh kế, mức thu nhập từ du lịch, mức độ quan tâm đến đa dạng sinh học và nguyện vọng tham gia cung ứng dịch vụ du lịch.
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn bằng câu hỏi mở đối với Ban quản lý và nhân viên Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường về thực trạng khai thác, công tác quản lý, đào tạo nhân sự và định hướng chiến lược.
  • Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Tiếp nhận tham vấn từ cán bộ nòng cốt Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim, giảng viên Khoa Môi trường và Tài nguyên (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM) và các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch sinh thái, bảo tồn.
  • Phương pháp ma trận hoạt động tác động (Active Impact Matrix - AIM): Xác định mối quan hệ tương hỗ giữa 10 hoạt động du lịch chính và công tác bảo tồn, lượng hóa mức độ tác động theo thang điểm từ -3 đến +3 (từ rất tiêu cực đến rất tích cực, điểm 0 là không tác động).
  • Phương pháp tính sức chứa du lịch: Ứng dụng công thức Boullon (1985) để tính toán sức chứa cho từng phân khu và tuyến du lịch dựa trên diện tích/chiều dài sử dụng và định mức tiêu chuẩn cá nhân, kết hợp hệ số luân chuyển (HSLC) để xác định tổng số khách tối đa mỗi ngày (KMN).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng Microsoft Excel để thống kê các biến số định lượng, phần mềm N-Graph / Origin 7.0 để dựng biểu đồ trực quan hóa dữ liệu và Microsoft Word 2010 để biên tập báo cáo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương mở đầu luận giải tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim đang phát triển nhanh nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây áp lực lên hệ sinh thái đất ngập nước. Tác giả xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu (giới hạn nội dung về tương tác giữa du lịch và bảo tồn; không gian 7.313 ha tại huyện Tam Nông; thời gian từ tháng 01 đến tháng 06/2014). Chương này cũng khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý điều chỉnh chính sách, cân đối mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học với khai thác kinh tế du lịch.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa lý luận về du lịch sinh thái, đa dạng sinh học, vai trò của giáo dục môi trường và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc giảm thiểu sức ép lên tài nguyên thiên nhiên. Phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về Vườn quốc gia Tràm Chim:

  • Lịch sử và phân khu: Tiền thân là Công ty Nông Lâm Ngư Trường Tràm Chim (1985), phát hiện Sếu đầu đỏ năm 1986, trở thành Khu bảo tồn cấp tỉnh năm 1991, cấp Quốc gia năm 1994 và Vườn quốc gia năm 1998. Vườn gồm 3 phân khu: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt (6.889 ha gồm khu A1, A2, A3, A4); Phân khu Phục hồi sinh thái (653 ha gồm A5, A6); Phân khu Hành chính – Dịch vụ (46 ha gồm khu C).
  • Điều kiện tự nhiên: Nằm ở độ cao trung bình từ 0,9 m đến 2,3 m so với mực nước biển, thuộc vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười, chịu chi phối bởi lũ sông Tiền (ngập sâu 2 - 3 m kéo dài 4 - 5 tháng, từ tháng 7 đến tháng 12). Đất đai gồm 3 nhóm chính: đất xám trên phù sa cổ, đất phèn tiềm tàng và đất phèn hoạt động.
  • Đa dạng sinh học: Thảm thực vật có trên 130 loài thực vật bậc cao, 185 loài thực vật nổi (theo Dương Văn Ni, Trần Triết, 2010) với 6 quần xã thực vật tiêu biểu gồm: Rừng tràm (Melaleuca cajuputi), Sen (Nelumbo nucifera), Mồm mốc (Ischaemum rugosum), Cỏ ống (Panicum repens), Lúa ma (Oryza rufipogon) và Cỏ năn (Eleocharis dulcis). Khu hệ động vật ghi nhận 233 loài chim nước (16 loài thuộc Sách Đỏ IUCN, 14 loài Sách Đỏ Việt Nam, 14 loài CITES, tiêu biểu là loài Sếu đầu đỏ); 29 loài lưỡng cư và bò sát (8 loài trong Sách Đỏ Việt Nam như trăn đất, rùa răng, rắn ráo, rùa ba gờ...); 129 loài cá thuộc 11 bộ, 31 họ, 79 giống (theo điều tra năm 2011 của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2) và 8 loài tôm nước ngọt giống Macrobrachium.
  • Kinh tế - xã hội vùng đệm: Huyện Tam Nông năm 2011 có 105.277 người. Riêng 5 xã và 1 thị trấn giáp ranh có 12.656 hộ dân; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 15,75% (1.993 hộ), cận nghèo chiếm 11,83% (1.452 hộ). Sinh kế người dân chủ yếu phụ thuộc vào trồng lúa, đánh bắt thủy sản mùa lũ và làm thuê.

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thuyết minh cấu trúc phương pháp luận và các bước triển khai kỹ thuật của đề tài. Tác giả chi tiết hóa thiết kế bảng hỏi cho hai nhóm đối tượng (60 khách du lịch và 40 hộ dân), quy trình phỏng vấn sâu cán bộ quản lý Vườn và các chuyên gia. Phương pháp ma trận hoạt động tác động (AIM) được xây dựng gồm 10 hoạt động du lịch chủ chốt đối sánh với các mục tiêu bảo tồn để tính toán điểm số tác động tích cực và tiêu cực. Phương pháp tính toán sức chứa du lịch được mô hình hóa theo công thức Boullon (1985), kết hợp các tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT để chuẩn bị cho việc đánh giá khả năng tải của từng tuyến tham quan.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu thực địa và điều tra xã hội học:

  • Hiện trạng hạ tầng và dịch vụ du lịch: Vườn quản lý 07 phòng nghỉ (sức chứa 21 khách/đêm), 01 nhà ăn (100 khách), 03 vỏ tắc ráng (chở 27 - 36 khách/lượt), 01 Trung tâm du khách (30 - 40 khách), 01 sân tennis, 06 đài quan sát và 01 nhà nghỉ chân giữa rừng; khu vực vùng đệm có 9 nhà nghỉ tư nhân với công suất 180 khách/đêm.
  • Sản phẩm và tuyến điểm du lịch: Vườn vận hành 5 tuyến tham quan chính:
    • Tuyến 1: Dài 36 km, thời gian 3 giờ (tham quan phía Tây khu A1, sinh cảnh rừng tràm, đồng cỏ ngập nước).
    • Tuyến 2: Dài 28 km, thời gian 2 giờ 45 phút (tham quan phân khu bảo vệ nghiêm ngặt A1, quan sát chim nước).
    • Tuyến 3: Dài 28 km, thời gian 1 giờ 30 phút (quan sát sinh cảnh lúa ma, cỏ năn).
    • Tuyến 4: Dài 17 km, thời gian 1 giờ (quan sát bãi chim tại phân khu A2).
    • Tuyến 5: Dài 12 km, thời gian 45 phút (tham quan tổng quát cảnh quan). Bên cạnh đó có 3 tuyến theo mùa: Xem chim sinh sản (tháng 9 - 12), Xem Sếu (tháng 1 - 5), Cảnh quan mùa nước nổi (tháng 7 - 11); cùng các dịch vụ đi bộ đường bờ đê bao, câu cá và cắm trại.
  • Đặc điểm khách du lịch: Khảo sát 60 du khách cho thấy cơ cấu du khách gồm: 65,7% công chức, 19,5% học sinh - sinh viên, 10,2% nhà nghiên cứu. Kênh tiếp cận thông tin chủ yếu là qua bạn bè, người thân (48,7%). Đa số khách chỉ lưu trú 1 buổi và về trong ngày (93,4%). Tỷ lệ quay lại Vườn còn rất thấp (chủ yếu là khách đến lần đầu). Về mức độ hài lòng: 85% hài lòng về chi phí dịch vụ; 88,4% đánh giá tốt hướng dẫn viên; tuy nhiên có 31,7% không hài lòng về cơ sở vật chất (nhà ăn, tiện nghi lưu trú, nhà vệ sinh còn kém). Hoạt động thu hút khách nhất là xem chim, thú (58,3%) và tham quan cảnh quan (36,7%).
  • Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng: Khảo sát 40 hộ dân vùng đệm ghi nhận 37,5% người dân có nguyện vọng tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái. Trong nhóm này, 80% muốn làm dịch vụ ăn uống, 33,3% làm hướng dẫn viên, 20% làm dịch vụ lưu trú (homestay), 13,3% bán hàng lưu niệm. Có 87,5% người dân nhận thức được tính chất quan trọng và rất quan trọng của các loài động, thực vật trong Vườn.
  • Đánh giá tác động đến bảo tồn:
    • Tác động tích cực: Hoạt động du lịch đóng góp nguồn thu kinh phí quản lý, tạo việc làm giảm áp lực khai thác tài nguyên và nâng cao nhận thức bảo tồn thông qua giáo dục môi trường (100% du khách khảo sát khẳng định hiểu biết tăng lên sau chuyến đi). Theo ma trận AIM (Bảng 4.5), các hoạt động có điểm tích cực cao nhất gồm: Đi bộ, chèo thuyền trong rừng (12 điểm), Tham quan Trung tâm du khách - nghe diễn giải môi trường (10 điểm), Xem biểu diễn đờn ca tài tử (9 điểm), Xem chim thú (7 điểm).
    • Tác động tiêu cực: Hoạt động mở đường mòn du lịch và sự chen lấn dẫm đạp của du khách làm phá hủy thảm thực vật; hoạt động câu cá dẫn đến việc người dân/khách dọn sạch cỏ ven bờ để tránh vướng lưỡi câu, thậm chí xả hóa chất dụ cá; phương tiện tắc ráng chạy bằng động cơ gây tiếng ồn xua đuổi chim nước; hoạt động cắm trại tự do (90,9% khách cắm trại muốn đốt lửa trại, 49,09% muốn nấu nướng) tạo nguy cơ cháy rừng vào mùa khô và phát sinh rác thải chưa được thu gom triệt để (5% du khách thừa nhận vứt rác tại chỗ).

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm tắt các phát hiện chính về mâu thuẫn giữa tiềm năng tự nhiên phong phú với thực trạng du lịch còn nghèo nàn, doanh thu thấp và sự yếu kém về hạ tầng, dịch vụ. Tác giả kiến nghị Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim cùng chính quyền địa phương tập trung kiểm soát sức chứa, nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo chuyên môn cho đội ngũ hướng dẫn viên, và xây dựng cơ chế liên kết cộng đồng chia sẻ lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ bền vững khu Ramsar Tràm Chim.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã tổng hợp các số liệu thực tế về lượng khách và doanh thu du lịch của Vườn quốc gia Tràm Chim trong giai đoạn 2011 - 2013:

Năm Lượng khách nội địa (người) Lượng khách quốc tế (người) Tổng lượt khách (người) Tỷ trọng khách nội địa (%)
2011 8.216 173 8.389 97,94%
2012 16.131 425 16.556 97,43%
2013 23.581 514 24.095 97,87%

Nguồn: Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường VQG Tràm Chim

Số liệu cho thấy lượng khách tăng trưởng qua các năm (tổng lượt khách năm 2013 tăng gấp 2,87 lần so với năm 2011; doanh thu năm 2013 tăng 39,56% so với năm 2012). Tuy nhiên, khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo (97,87% năm 2013), tỷ lệ khách quốc tế rất thấp (chỉ đạt 2,13%), phản ánh công tác quảng bá quốc tế còn nhiều hạn chế.

Dựa trên kết quả phân tích ma trận AIM và điều tra thực trạng, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp hạn chế tác động tiêu cực đến bảo tồn:
    • Áp dụng nghiêm ngặt công thức tính sức chứa du lịch hàng ngày cho từng tuyến tham quan để khống chế lượng phương tiện và du khách trong ngưỡng an toàn sinh thái.
    • Kiểm soát hành vi tác động đến động - thực vật: quy định luồng tuyến cố định cho tắc ráng, hạn chế tốc độ chạy tàu để giảm sóng và tiếng ồn; cấm tuyệt đối việc nhổ cỏ, bẻ cành, dẫm đạp thảm cỏ lúa ma và cỏ năn; nghiêm cấm việc dùng mồi hóa chất trong dịch vụ câu cá.
    • Quản lý rác thải và chất thải: bố trí hệ thống thùng rác phân loại tại các trạm dừng chân, đài quan sát và nhà ăn; xây dựng quy chế kiểm soát chất thải từ các tàu du lịch; giám sát chặt chẽ dịch vụ cắm trại, kiểm soát nguồn lửa để phòng chống cháy rừng mùa khô.
  • Nhóm giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững:
    • Phân vùng sử dụng tài nguyên hợp lý, bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi (phân khu A1) trong các mùa chim sinh sản và mùa Sếu về kiếm ăn.
    • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với bản sắc Đồng Tháp Mười (đưa nghệ thuật đờn ca tài tử cải lương, trải nghiệm mùa nước nổi, ẩm thực đồng quê vào chương trình tour).
    • Phát triển mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: hỗ trợ người dân vùng đệm vay vốn, đào tạo kỹ năng phục vụ ăn uống, làm hướng dẫn viên bản địa và phát triển dịch vụ lưu trú homestay để chuyển đổi sinh kế cho các hộ nghèo.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng diễn giải môi trường và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, hướng dẫn viên du lịch của Vườn.

Về mặt đóng góp, khóa luận là công trình khảo sát thực chứng chuyên biệt tại Vườn quốc gia Tràm Chim, cung cấp bộ dữ liệu thực tế về cơ cấu du khách, nhận thức cộng đồng vùng đệm và định lượng tác động của 10 hoạt động du lịch chủ chốt lên hệ sinh thái đất ngập nước. Nghiên cứu xác lập cơ sở thực tiễn giúp ban quản lý nhận diện các điểm nghẽn về hạ tầng và áp lực sinh thái, từ đó định hình định hướng quản trị du lịch hài hòa với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014), chủ yếu rơi vào mùa khô và giai đoạn chuyển mùa, chưa theo dõi được liên tục toàn bộ biến động sinh thái và hoạt động du lịch trong mùa lũ (mùa nước nổi kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12).
  • Quy mô mẫu khảo sát xã hội học còn hạn chế (100 phiếu, gồm 60 du khách và 40 hộ dân) do hạn hẹp về thời gian và kinh phí thực hiện, chưa đại diện đầy đủ cho toàn bộ cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh 5 xã và 1 thị trấn vùng đệm (hơn 12.000 hộ).
  • Việc đánh giá nguy cơ tổn hại đa dạng sinh học dừng lại ở mức độ định tính kết hợp bán định lượng thông qua ma trận tác động AIM và quan sát thực địa; chưa thực hiện các đo đạc hóa sinh chuyên sâu về chất lượng nước mặt, trầm tích hoặc khảo sát định lượng mật độ quần thể các loài chỉ thị sinh học dưới tác động của tiếng ồn tàu máy.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát theo chu kỳ cả năm (bao gồm trọn vẹn mùa nước nổi và mùa chim di cư) với cỡ mẫu điều tra du khách và cộng đồng lớn hơn.
  • Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm quan trắc các chỉ tiêu lý - hóa - sinh của môi trường nước tại các tuyến có mật độ tắc ráng cao; phân tích tác động cụ thể của tiếng ồn động cơ đến tập tính làm tổ của chim nước tại phân khu A1 và A2.
  • Nghiên cứu cơ chế chia sẻ lợi ích tài chính và mô hình đồng quản lý du lịch sinh thái giữa Vườn quốc gia và cộng đồng dân cư vùng đệm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý Môi trường, Du lịch sinh thái, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Lâm nghiệp và Bảo tồn Đa dạng sinh học: Tham khảo khung phương pháp kết hợp điều tra xã hội học với ma trận AIM và công thức tính sức chứa du lịch Boullon áp dụng cho khu bảo tồn đất ngập nước.
  • Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim và Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường: Sử dụng các số liệu khảo sát về thị hiếu du khách, tỷ lệ không hài lòng về cơ sở vật chất (31,7%) và nhu cầu tham gia dịch vụ của người dân vùng đệm (37,5%) để xây dựng kế hoạch nâng cấp dịch vụ và phát triển du lịch cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý tại các khu Ramsar và vườn quốc gia vùng Đồng bằng sông Cửu Long (như Láng Sen, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau): Tham khảo kinh nghiệm đánh giá xung đột giữa phát triển du lịch sông nước (vỏ tắc ráng) với công tác bảo tồn chim nước và phòng cháy chữa cháy rừng tràm.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng các phương pháp cụ thể nào để thu thập và xử lý dữ liệu?
Nghiên cứu sử dụng 7 phương pháp chính: (1) Nghiên cứu tài liệu thứ cấp; (2) Khảo sát thực địa tại Vườn và vùng đệm; (3) Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi với cỡ mẫu 100 phiếu (60 du khách, 40 người dân); (4) Phỏng vấn trực tiếp cán bộ Ban quản lý; (5) Tham khảo ý kiến chuyên gia; (6) Ma trận hoạt động tác động (AIM) đánh giá từ -3 đến +3; (7) Phương pháp tính sức chứa du lịch theo Boullon (1985) kết hợp xử lý thống kê bằng Excel và vẽ đồ thị bằng N-Graph / Origin 7.0.

Cơ cấu du khách đến Vườn quốc gia Tràm Chim theo kết quả điều tra có đặc điểm gì nổi bật?
Theo kết quả khảo sát 60 du khách vào tháng 03/2014, nhóm khách chiếm tỷ lệ cao nhất là công chức (65,7%), tiếp đến là học sinh - sinh viên (19,5%) và các nhà nghiên cứu (10,2%). Đa số du khách biết đến Vườn thông qua kênh thông tin bạn bè, người thân (48,7%), có thời gian lưu trú ngắn (93,4% chỉ tham quan 1 buổi và về trong ngày) và tỷ lệ du khách quay trở lại Vườn còn rất hạn chế.

Hoạt động du lịch nào có tác động tích cực nhất và hoạt động nào gây nguy cơ tiêu cực lớn nhất đến bảo tồn?
Theo ma trận AIM trong văn bản, hoạt động có tác động tích cực nhiều nhất là đi bộ, chèo thuyền trong rừng (12 điểm) và tham quan Trung tâm du khách - nghe diễn giải môi trường (10 điểm), chủ yếu nhờ hiệu quả giáo dục môi trường. Ngược lại, các nguy cơ tiêu cực lớn nhất gồm: mở đường mòn làm suy thoái thảm thực vật; hoạt động cắm trại tự do có đốt lửa (90,9% khách cắm trại muốn đốt lửa) đe dọa cháy rừng mùa khô; hoạt động câu cá dọn sạch cỏ ven bờ và sử dụng hóa chất dụ cá; cùng với tiếng ồn xuồng máy làm xáo trộn chim nước.

Nguyện vọng và sự tham gia của người dân vùng đệm đối với hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn ra sao?
Khảo sát 40 hộ dân cho thấy có 37,5% người dân mong muốn trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái. Trong số những người muốn tham gia, 80% chọn làm dịch vụ ăn uống, 33,3% muốn làm hướng dẫn viên, 20% muốn kinh doanh nhà nghỉ/homestay và 13,3% muốn bán hàng lưu niệm. Đồng thời, 87,5% người dân khẳng định các loài động, thực vật trong Vườn giữ vai trò quan trọng và rất quan trọng đối với đời sống và môi trường sinh thái.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Tý đã đánh giá hệ thống hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái và nhận diện rõ nét mối tương tác hai chiều với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim. Kết quả nghiên cứu khẳng định du lịch sinh thái đã mang lại nguồn thu ngân sách, tạo việc làm và nâng cao nhận thức bảo tồn, song các hoạt động tự phát như câu cá, cắm trại đốt lửa và việc gia tăng phương tiện xuồng máy đang tạo sức ép đáng kể lên các quần xã thực vật và chim nước quý hiếm. Hệ thống giải pháp về khống chế sức chứa du lịch, quản lý chất thải và phát triển sinh kế cộng đồng do tác giả đề xuất là cơ sở thực tế có giá trị, đóng góp vào định hướng quản lý bền vững khu Ramsar Tràm Chim.