ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã đƣợc ghi nhận nhƣ là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nƣớc.Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng tạo việc làm, thúc đẩy thƣơng mại và đầu tƣ, phát triển cơ sở hạ tầng của nhiều nƣớc trên thế giới. Riêng năm 2016, du lịch và lữ hành toàn cầu đóng góp trực tiếp vào GDP hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tƣơng đƣơng 3,1%) và trực tiếp tạo ra gần 109 triệu việc làm (chiếm 3,6% tổng việc làm trên toàn thế giới). Mạng lƣới du lịch đã đƣợc thiết lập ở hầu hết các quốc gia.
Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch. Tại Việt Nam, trong những năm qua, ngành Du lịch đã có bƣớc phát triển rõ rệt và đạt đƣợc những kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ. Tốc độ tăng trƣởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm. Năm 2016, số lƣợng khách du lịch quốc tế đạt 10 triệu lƣợt ngƣời, tăng hơn 4,3 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 62 triệu lƣợt ngƣời, tăng 5,3 lần so với năm 2001; đóng góp trực tiếp ƣớc đạt 6,8% GDP, cả gián tiếp và lan toả đạt 14% GDP.
Sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam. Cùng với sự phát triển của du lịch cả nƣớc, khu di tích và thắng cảnh Hƣơng Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội đã và đang từng bƣớc phát triển với nhiều mô hình hoạt động và dịch vụ du lịch phong phú đáp ứng nhu cầu của du khách tham quan. Khu di tích và thắng cảnh Hƣơng Sơn cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 50km là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hoá, tín ngƣỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung, là một điểm hẹn du lịch hấp dẫn đƣợc nhiều bạn bè trong và ngoài nƣớc biết đến. Nơi đây có động Hƣơng Tích với vẻ đẹp hiếm có đƣợc coi là “Nam thiên đệ nhất động”, một vùng sơn thủy hữu tình, non xanh nƣớc biếc, không chỉ có bề dày lịch sử hơn 500 năm, mà còn là một danh thắng nổi tiếng về du lịch và lễ hội lâu đời mang yếu tố tâm linh của ngƣời dân đất Việt mỗi khi tết đến, xuân về.
Lễ hội Chùa Hƣơng đƣợc biết đến nhƣ một lễ hội cầu may, bắt đầu từ mồng 6 Tết Nguyên đán, kéo dài trong 3 tháng, trong khoảng thời gian này thu hút 90% lƣợng khách du lịch đến với Chùa Hƣơng so với cả năm. Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch ở chùa Hƣơng đã giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân địa phƣơng, góp phần phát triển kinh tế xã hội huyện Mỹ Đức, mà hơn bao giờ hết lễ hội còn mang lại những giá trị tinh thần cho đời sống xã hội. Tuy nhiên, do lƣợng khách du lịch đến với Chùa Hƣơng tập trung trong một thời gian ngắn (thu hút khoảng 1,2 đến 1,4 triệu du khách trong thời gian 3 tháng) đã gây một sức ép rất lớn lên môi trƣờng tự nhiên tại đây, rõ rệt nhất là sự gia tăng mức sử dụng tài nguyên, tăng lƣợng rác thải, nƣớc thải gây ô nhiễm môi trƣờng… Ngƣợc lại khi môi trƣờng bị ô nhiễm, suy thoái sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng khu du lịch, làm giảm sức hút đối với du khách đến tham quan. Chính vì vậy phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu, mà còn là nhiệm vụ trọng tâm của khu du lịch Hƣơng Sơn.
Một trong những nhiệm vụ cần thiết và cấp bách đó là phải đánh giá đƣợc những tác động của du lịch đến môi trƣờng trên cơ sở đó đề xuất đƣợc những giải pháp phù hợp để giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng tại khu du lịch chùa Hƣơng. Do vậy, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm môi trƣờng: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật.” [Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, 2014]; - Khái niệm du lịch theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm chú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ. - Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch nhƣ sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ.” * Theo Luật du lịch Việt Nam, 2017: - Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. - Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trƣờng, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tƣơng lai.
- Môi trƣờng du lịch là môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội nơi diễn ra các hoạt động du lịch. - Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cƣ có liên quan đến du lịch. - Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa: + Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch.
+ Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con ngƣời có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch. - Các loại hình du lịch: + Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch đƣợc phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cƣ quản lý, tổ chức khai thác và hƣởng lợi. + Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng, có sự tham gia của cộng đồng dân cƣ, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trƣờng. + Du lịch văn hóa là loại hình du lịch đƣợc phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại.
- Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chƣa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con ngƣời trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con ngƣời về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngƣỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con ngƣời trong khi đi du lịch.php/news/items/10680].
Mối quan hệ giữa môi trƣờng và du lịch Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trƣờng, khai thác đặc tính của môi trƣờng để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trƣờng. Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tƣ cách là một ngành kinh tế gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trƣờng xung quanh. Chính vì vậy hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trƣờng hiểu theo nghĩa rộng. Các cảnh đẹp của thiên nhiên nhƣ núi, sông, biển cả., các giá trị văn hoá nhƣ các di tích, công trình kiến trúc nghệ thuật.
hay những đặc điểm và tình trạng của môi trƣờng xung quanh là những tiềm năng và điều kiện cho phát triển du lịch. Ngƣợc lại, ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi trƣờng mới hay góp phần cải thiện môi trƣờng nhƣ việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, các công viên cây xanh, hồ nƣớc nhân tạo, các làng văn hoá du lịch.