Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch toàn cầu năm 2016 đã đóng góp trực tiếp hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 3,1% GDP toàn cầu) và tạo ra gần 109 triệu việc làm. Tại Việt Nam, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm và khách nội địa đạt 11,8%/năm; năm 2016 toàn ngành đón 10 triệu lượt khách quốc tế cùng 62 triệu lượt khách nội địa, đóng góp tổng hợp tới 14% GDP. Trong bối cảnh tăng trưởng nhanh chóng đó, Khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn (Chùa Hương) thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội trở thành một trong những trung tâm du lịch tâm linh lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, tính chất mùa vụ đặc thù khi lễ hội Chùa Hương kéo dài 3 tháng đầu năm đã thu hút từ 1,2 đến 1,4 triệu lượt du khách, chiếm tới 90% tổng lượng khách của cả năm.

Sự gia tăng đột biến về mật độ du khách trong một không gian địa hình thung lũng núi đá vôi hẹp đã tạo ra sức ép nghiêm trọng lên môi trường sinh thái. Các vấn đề nổi cộm bao gồm quá tải hạ tầng thu gom rác thải, ô nhiễm nguồn nước mặt suối Yến và nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng đặc dụng Hương Sơn với diện tích 3.320,41 ha. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định mức độ tác động của dòng khách du lịch lên các thành phần môi trường và năng lực tự phục hồi của hệ sinh thái bản địa.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học môi trường của tác giả Phạm Thị Phương Lan, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Xuân Dũng tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tập trung giải quyết 4 mục tiêu cụ thể: xác định hiện trạng hoạt động du lịch và sức chứa các tuyến tham quan; đánh giá đặc điểm phát sinh chất thải rắn sinh hoạt; phân tích chất lượng môi trường nước mặt suối Yến; và đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nhằm hướng tới phát triển du lịch bền vững. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại xã Hương Sơn từ tháng 11/2017 đến tháng 4/2018, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2009-2018. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương kiểm soát trên 95% lượng rác thải mùa hội và duy trì chất lượng nước mặt suối Yến đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 3 khung lý thuyết và mô hình khoa học môi trường hiện đại:

  1. Lý thuyết phát triển du lịch bền vững theo tinh thần Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: Lý thuyết này nhấn mạnh sự phát triển du lịch phải đáp ứng đồng thời các mục tiêu kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm tính toàn vẹn của hệ sinh thái tự nhiên và bảo tồn bản sắc văn hóa bản địa mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai.
  2. Mô hình sức chứa du lịch (Tourism Carrying Capacity) của tác giả A. Ceballos-Lascurain: Mô hình này phân tích khả năng chịu tải của các tuyến điểm tham quan qua hai cấp độ chính gồm Sức chịu tải vật lý (Physical Carrying Capacity - PCC) và Sức chịu tải thực tế (Effective Real Carrying Capacity - ERCC). ERCC được xác định thông qua việc chiết giảm PCC bởi các hệ số hiệu chỉnh giới hạn sinh thái như thời tiết bất lợi (114 ngày mưa/năm, 150 ngày nắng gắt) và độ dốc địa hình.
  3. Khung đánh giá áp lực - trạng thái - đáp ứng môi trường dựa trên Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014: Khung này giải thích mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa môi trường và hoạt động du lịch, định lượng các dòng phát thải sinh hoạt tác động tiêu cực đến môi trường tiếp nhận.

Các khái niệm chính được làm rõ trong đề tài gồm: môi trường du lịch, du lịch tâm linh, sức chứa du lịch, chất thải rắn sinh hoạt, và tải lượng ô nhiễm nước mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm độ tin cậy và tính khách quan khoa học, luận văn tích hợp đa dạng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp qua quy trình phân tích chặt chẽ:

  • Phương pháp điều tra xã hội học và chọn mẫu: Cỡ mẫu điều tra gồm 100 phiếu, bao gồm 70 phiếu khảo sát khách du lịch nội địa được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 4 trọng điểm (Đền Trình, Bến Trò, Chùa Thiên Trù, Động Hương Tích) và 30 phiếu phỏng vấn các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, lưu trú. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 03 cán bộ Ban quản lý di tích và 03 công nhân vệ sinh môi trường trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường.
  • Phương pháp đánh giá chất thải rắn sinh hoạt: Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập 100 kg mẫu rác đại diện từ 6 nhà hàng ăn uống (30 kg), 2 nhà trọ (10 kg), Ban quản lý và nhà chùa (10 kg), 5 quầy hàng rong (10 kg) và rác thu gom từ thùng công cộng (40 kg). Toàn bộ lượng rác được trộn đều và áp dụng phương pháp chia tư đường chéo để rút gọn mẫu xuống 20-30 kg phục vụ phân loại thủ công thành 3 nhóm: hữu cơ dễ phân hủy, tái chế/tái sử dụng và chất thải còn lại. Khối lượng thể tích rác được xác định qua việc cân ngẫu nhiên 10 xe thu gom đẩy tay loại 0,5 m3, cho kết quả trung bình 215 kg/xe (tương đương khối lượng riêng 0,43 tấn/m3).
  • Phương pháp quan trắc và phân tích nước mặt: Lấy mẫu tại 3 vị trí điển hình trên trục thủy đạo suối Yến gồm Bến Yến (N01), Cầu Hội/Núi Đổi Chèo (N02) và Bến Trò/Thiên Trù (N03). Tần suất lấy mẫu gồm 2 đợt: đợt 1 vào tháng 1/2018 (trước mùa lễ hội) và đợt 2 vào tháng 4/2018 (thời điểm diễn ra cao điểm lễ hội) theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008. Các chỉ tiêu phân tích trong phòng thí nghiệm thuộc Viện Công nghệ Môi trường bao gồm pH, DO, BOD5, COD, TSS, NH4+, PO43-, Coliform và E. coli, đối chiếu trực tiếp với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột B). Lý do lựa chọn các chỉ tiêu này nhằm phản ánh chính xác nguồn ô nhiễm hữu cơ và vi sinh từ hoạt động sinh hoạt của du khách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã lượng hóa được những tác động môi trường rõ rệt do hoạt động du lịch mùa lễ hội gây ra tại khu danh thắng Hương Sơn:

  1. Vượt ngưỡng sức chứa thực tế vào những ngày cao điểm: Tính toán theo công thức A. Ceballos-Lascurain cho thấy sức chịu tải thực tế (ERCC) của tuyến Hương Tích bị vượt ngưỡng nghiêm trọng trong các ngày lễ chính, ngày nghỉ cuối tuần. Vào những ngày cao điểm, lượng khách đổ về lên tới 40.000 - 50.000 lượt người/ngày, cao hơn từ 1,6 đến 2,0 lần so với năng lực tiếp nhận tối ưu của hạ tầng di tích, gây ra tình trạng ùn ứ cục bộ tại khu vực sân Thiên Trù và lòng Động Hương Tích.
  2. Gia tăng đột biến khối lượng rác thải sinh hoạt: Khối lượng rác phát sinh trong 3 tháng mùa hội năm 2018 đạt hàng trăm tấn, với khối lượng phát sinh trung bình từ 15 đến 20 tấn/ngày. Tỷ trọng rác xác định ở mức 0,43 tấn/m3. Kết quả phân tích thành phần rác thải chỉ ra rằng: nhóm rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ cao nhất với hơn 55%, nhóm rác tái chế và bao bì nhựa/nylon dùng một lần chiếm 25-30%, phần còn lại là tro hương, vàng mã và chất thải vô cơ khác. Khối lượng này tạo áp lực quá tải trực tiếp lên các bãi rác Mả Mê, thôn Yến Vỹ và các lò đốt thủ công.
  3. Chất lượng nước mặt suối Yến suy giảm rõ rệt theo mùa lễ hội: Dữ liệu quan trắc tháng 4/2018 (cao điểm lễ hội) so với tháng 1/2018 (trước lễ hội) cho thấy sự suy thoái chất lượng nước rất mạnh. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) tại điểm Bến Trò (N03) giảm mạnh, trong khi nồng độ nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) tăng gấp 2,5 đến 3,8 lần. Các thông số dinh dưỡng như Amoni (NH4+ tính theo N) và Phosphat (PO43- tính theo P) tại điểm N02 và N03 đều vượt giới hạn quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B từ 1,5 đến 2,8 lần. Mật độ vi sinh Coliform tăng vọt trong mùa hội do lưu lượng nước thải sinh hoạt xả ra môi trường ước tính tương đương 90% lượng nước cấp (trạm cấp nước Thiên Trù vận hành với công suất 750 m3/ngày-đêm).
  4. Áp lực đe dọa đa dạng sinh học rừng đặc dụng: Hoạt động du lịch tập trung đông người cùng tiếng ồn, khói bụi và việc mở rộng dịch vụ tự phát đã xâm lấn hành lang bảo vệ của 3.320,41 ha rừng đặc dụng Hương Sơn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sinh cảnh sống của 24 loài thực vật quý hiếm (trầm, sưa, chò chỉ, nghiến, rau sắng) và 40 loài động vật quý hiếm ghi trong Sách Đỏ.

Thảo luận kết quả

Sự suy thoái môi trường cục bộ tại Chùa Hương xuất phát từ sự bất cập giữa tốc độ tăng trưởng du khách với năng lực của hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường. Tính thời vụ tập trung 90% lượng khách trong vòng 90 ngày đã làm tê liệt các công trình thu gom cục bộ.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2017) tại Vườn quốc gia Tam Đảo hay Lý Thị Ngọc Nga (2011) tại Sa Pa, hiện tượng ô nhiễm nước mặt và quá tải chất thải rắn tại các điểm du lịch miền núi đều có chung quy luật: sự thiếu hụt trạm xử lý nước thải tập trung và thói quen xả rác bừa bãi của du khách là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm chỉ số chất lượng môi trường. Dữ liệu từ luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ biến thiên nồng độ BOD5 và Coliform giữa các đợt quan trắc, biểu đồ cột so sánh lượng khách thực tế với sức chứa ERCC, cùng biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ thành phần rác thải hữu cơ và vô cơ. Điều này khẳng định việc kiểm soát môi trường suối Yến đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và quản lý điều tiết du khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường và hướng tới phát triển bền vững khu danh thắng Chùa Hương, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và kiểm soát sức tải du lịch (Chủ thể: UBND huyện Mỹ Đức phối hợp với Ban quản lý Khu di tích): Xây dựng và ban hành quy chế quản lý môi trường đặc thù mùa lễ hội; áp dụng hệ thống vé điện tử phân luồng du khách theo khung giờ để giảm 30% lượng khách tập trung cùng lúc tại các điểm nghẽn; hoàn thành trong giai đoạn 2019-2020.
  2. Tối ưu hóa mạng lưới thu gom và nâng cấp công nghệ xử lý chất thải rắn (Chủ thể: Công ty TNHH Yến Hương và UBND xã Hương Sơn): Bố trí thêm 150 thùng rác phân loại 3 ngăn chuyên dụng tại các trục đường chính từ Bến Trò lên Động Hương Tích; nâng cấp công nghệ lò đốt rác tại khu vực Mả Mê đảm bảo công suất xử lý đạt trên 95% lượng rác phát sinh hàng ngày trong mùa lễ hội; lộ trình triển khai từ quý I năm 2019.
  3. Xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt phân tán (Chủ thể: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội kết hợp UBND huyện Mỹ Đức): Lắp đặt cụm module xử lý nước thải sinh hoạt hợp khối công suất 500-800 m3/ngày-đêm tại khu vực tập trung nhà hàng Bến Trò và Thiên Trù; bắt buộc 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải lắp đặt bể tự hoại 3 ngăn có ngăn tách dầu mỡ đạt chuẩn trước năm 2020 để đưa nước mặt suối Yến về giới hạn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B.
  4. Tăng cường tuyên truyền và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng (Chủ thể: Ban quản lý di tích, Hội đồng trị sự nhà chùa và cộng đồng địa phương): Tổ chức tập huấn nghiệp vụ bảo vệ môi trường cho hơn 4.000 chủ thuyền đò; triển khai mô hình "Thuyền đò xanh không rác thải" bằng việc trang bị giỏ rác trên 100% phương tiện vận chuyển đường thủy; thực hiện liên tục hàng năm từ năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Các nhà quản lý quy hoạch và hoạch định chính sách du lịch: Cơ quan trực thuộc Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, UBND huyện Mỹ Đức và Ban quản lý các khu di tích quốc gia có thể khai thác mô hình tính toán sức chứa du lịch và cơ chế quản lý môi trường lễ hội quy mô lớn.
  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các cá nhân thuộc chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Lâm nghiệp và Du lịch học có thể sử dụng luận văn làm tài liệu giảng dạy, kế thừa phương pháp nghiên cứu thành phần rác thải và quy trình quan trắc thủy vực suối miền núi đá vôi.
  3. Các doanh nghiệp dịch vụ du lịch, lữ hành và xử lý môi trường: Các đơn vị quản lý tour du lịch sinh thái và công ty môi trường đô thị có thể tham khảo dữ liệu về tỷ trọng chất thải 0,43 tấn/m3 cùng công nghệ lò đốt, trạm xử lý nước thải phân tán để thiết kế giải pháp kỹ thuật phù hợp.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng bảo tồn thiên nhiên: Những đơn vị hoạt động vì môi trường có thể ứng dụng các phát hiện của luận văn để xây dựng dự án truyền thông bảo vệ 3.320,41 ha rừng đặc dụng Hương Sơn và gìn giữ nguồn tài nguyên bản địa quý báu.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động du lịch mùa lễ hội Chùa Hương gây áp lực cụ thể nào lên môi trường?

Với lượng khách từ 1,2 đến 1,4 triệu người tập trung trong 90 ngày, khu du lịch phát sinh 15-20 tấn rác thải/ngày và lượng nước thải vượt 600-700 m3/ngày. Lượng chất thải khổng lồ này vượt quá khả năng tự làm sạch tự nhiên của suối Yến và hạ tầng thu gom tại chỗ.

Phương pháp nào được luận văn sử dụng để tính toán sức tải du lịch?

Luận văn áp dụng công thức của tác giả A. Ceballos-Lascurain để tính sức tải vật lý PCC và sức tải thực tế ERCC. Phương pháp này tích hợp các hệ số giới hạn tự nhiên gồm 114 ngày mưa, 150 ngày nắng gắt, độ dốc địa hình và tiêu chuẩn nhóm 10 người cách nhau 20m.

Chất lượng nước mặt suối Yến thay đổi ra sao trong mùa diễn ra lễ hội?

Số liệu quan trắc tại 3 điểm cho thấy nồng độ BOD5 trong mùa lễ hội tháng 4/2018 tăng gấp 2,5-3,8 lần so với tháng 1/2018. Đồng thời nồng độ Amoni, Phosphat và mật độ vi sinh Coliform đều vượt giới hạn quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B do tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa xử lý.

Đặc điểm và thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Chùa Hương có gì nổi bật?

Phân tích 100 kg mẫu rác đại diện qua 4 đợt khảo sát xác định tỷ trọng rác đạt 0,43 tấn/m3 (215 kg/xe 0,5 m3). Rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ trọng cao nhất trên 55%, bao bì nhựa dùng một lần chiếm 25-30%, còn lại là tro hương và vàng mã.

Giải pháp kỹ thuật nào mang tính đột phá để xử lý ô nhiễm nước thải tại đây?

Đề tài kiến nghị xây dựng cụm module xử lý nước thải sinh hoạt phân tán công suất 500-800 m3/ngày-đêm tại khu vực Bến Trò và Thiên Trù, kết hợp bắt buộc 100% cơ sở ăn uống lắp đặt bể tự hoại 3 ngăn có bẫy dầu mỡ trước khi xả thải.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng hoạt động du lịch mùa lễ hội Chùa Hương với lượng du khách tập trung 1,2 - 1,4 triệu lượt người trong 3 tháng.
  • Xác định tỷ trọng rác thải sinh hoạt đạt mức 0,43 tấn/m3 với hơn 55% là thành phần hữu cơ dễ phân hủy phát sinh trung bình 15-20 tấn/ngày.
  • Định lượng sự suy thoái môi trường nước mặt suối Yến khi các chỉ tiêu BOD5, Amoni, Phosphat và Coliform vượt ngưỡng quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B trong mùa cao điểm.
  • Nhấn mạnh yêu cầu cấp bách bảo vệ diện tích 3.320,41 ha rừng đặc dụng Hương Sơn cùng hệ động thực vật phong phú gồm 873 loài thực vật và 288 loài động vật có xương sống.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp phân luồng sức tải, công nghệ module xử lý nước thải phân tán, nâng cấp lò đốt Mả Mê và truyền thông cộng đồng.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp bức tranh định lượng khoa học và bộ cơ sở dữ liệu thực chứng về tải lượng ô nhiễm du lịch tại khu thắng cảnh Hương Sơn. Lộ trình triển khai các giải pháp được khuyến nghị thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2019-2022 nhằm đảm bảo mục tiêu kép về phát triển kinh tế du lịch và bảo tồn sinh thái. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lữ hành hãy cùng chung tay áp dụng ngay các giải pháp phát triển du lịch bền vững để gìn giữ không gian văn hóa - sinh thái di sản Chùa Hương cho các thế hệ mai sau.