CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THỦY LỢI PHÍ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Một số khái niệm 1.1 Hệ thống công trình thủy lợi Công trình thủy lợi được quy định tại Luật 08/2017/QH14 có hiệu lực ngày 01/07/2018, theo đó: 4 Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý khai thác thủy lợi. Nghị định số 67/2018/NĐ-CP đã được Chính phủ ban hành có hiệu lực từ ngày 01/07/2018 đã giải thích cụ thể “Hệ thống công trình thủy lợi là hệ thống bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực” [1]. Hệ thống công trình thủy lợi (CTTL) bao gồm: Hệ thống CTTL lớn là hệ thống có nhiệm vụ tưới cho đất canh tác hoặc tiêu, thoát nước cho diện tích tự nhiên từ 20.000 ha trở lên. Hệ thống CTTL vừa là hệ thống có nhiệm vụ tưới cho đất canh tác hoặc tiêu, thoát nước cho diện tích tự nhiên từ 2.000 ha đến dưới 20.000 ha trở lên.
Và hệ thống CTTL nhỏ là hệ thống có nhiệm vụ tưới cho đất canh tác hoặc tiêu, thoát nước cho diện tích tự nhiên dưới 2. Căn cứ quy mô, nhiệm vụ, tầm quan trọng, mức độ rủi ro vùng hạ du, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND cấp tỉnh có đập, hồ chứa nước trên địa bàn, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung danh mục đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt. Phân cấp công trình thủy lợi để thiết kế công trình và để quản lý các nội dung khác được quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định của pháp luật có liên quan. Cấp công trình thủy lợi được xác định theo năng lực phục vụ, khả năng trữ nước của hồ chứa, đặc tính kỹ thuật và điều kiện địa chất nền của các công trình trong cụm đầu mối.
Cấp công trình thủy lợi là cấp cao nhất trong số các cấp xác định theo từng tiêu chí trên. Cấp của công trình đầu mối được xác định là cấp của công trình thủy lợi.2 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Quản lý KTCTTL được quy định trong chương 3 của Nghị định số 67/2018/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với các cơ sở tổ chức thủy lợi thì phải có nội quy, quy chế được cơ quan có thẩm quyền công 5 nhận theo quy định của Luật HTX, Bộ luật dân sự và các quy định khác có liên quan. Đồng thời phải có bộ máy tổ chức, người vận hành có chuyên môn, phù hợp yêu cầu kỹ thuật, quy mô CTTL được giao khai thác.
Đối với cá nhân muốn KTCTTL phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm về các công việc mình thực hiện và có văn bằng, chứng chỉ đào tạo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của CTTL mà cá nhân đó thực hiện khai thác. Việc bố trí, sử dụng lao động, trang thiết bị phục vụ quản lý vận hành CTTL nhỏ phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và theo quy định của pháp luật hiện hành [1]. Công trình thủy lợi là việc khai thác và phân phối nước nhân tạo ở cấp dự án nhằm mục đích áp dụng nước ở cấp đồng ruộng cho cây nông nghiệp ở vùng khô hoặc trong thời kỳ mưa khan hiếm để đảm bảo hoặc cải thiện sản xuất cây trồng. Do đó, việc khai thác công trình thủy lợi là việc khai thác, sử dụng tiềm năng và lợi thế của công trình thủy lợi để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Huppert và các cộng sự (2001) đã khuyến nghị việc quản lý CTTL hiệu quả không chỉ đơn thuần là thiết kế một tổ chức quản lý thích hợp, mà cần phải tạo nên một mô hình gồm nhiều tổ chức khác nhau, được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng nhưng lại hoạt động và kết hợp với nhau trong một khung thể chế thống nhất [2].3 Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Điều 12 quy định trong Nghị định trách nhiệm tuân thủ năng lực trong KTCTTL yêu cầu các tổ chức, cá nhân tham gia KTCTTL phải có năng lực phù hợp với quy mô, yêu cầu kỹ thuật của công trình theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hậu quả, thiệt hại do việc không đảm bảo các yêu cầu về năng lực gây ra. Các cá nhân trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý, vận hành CTTL, quản lý vận hành đập, hồ chứa nước định kỳ 5 năm phải tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực quản lý, vận hành CTTL, quản lý, vận hành đập, hồ chứa nước. Đối với các tổ chức được giao khai thác nhiều loại hình công trình đầu mối, số lượng cán bộ, công nhân KTCTTL theo yêu cầu quy định về đảm bảo năng lực phải tăng lên tương ứng. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân KTCTTL có sản xuất, kinh doanh hoạt động khác phải bảo đảm yêu cầu năng lực đối với ngành nghề kinh doanh đó theo quy định của pháp 6 luật có liên quan.
Và cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về thủy lợi kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định về năng lực đối với các cá nhân, tổ chức KTCTTL [1].2 Tổng quan về công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở nước ta Bảng 1.1 Chiều dài và tỷ lệ kiên cố hóa kênh dẫn nước cả nước năm 2013 Tổng chiều dài kênh Chiều dài kênh đã kiên Tỷ lệ % được dẫn nước (km) cố (km) kiên cố Cả nước 235.327 25,7 Kênh chính + kênh cấp I 36.850 27,1 Kênh cấp II Kênh cấp III và kênh nội 57.012 29,1 (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2013) Khu vực Đông Nam Bộ có phần trăm chiều dài kênh kiên cố tốt nhất trong cả nước năm 2013 đạt 50,2%, nhưng mức đạt này chưa cao, chỉ hơn 50% so với tổng chiều dài kênh dẫn nước. Đối với hai vùng đồng bằng, đồng bằng sông Hồng cho kết quả khả quan hơn đồng bằng sông Cửu Long, chiều dài kênh dẫn nước của hai vùng đồng bằng là 61.183 km (đồng bằng sông Cửu Long) nhưng chỉ có 18,9% và 3,8% kiên cố. Đây là hai khu vực có tỷ lệ kiên cố thấp nhất theo số liệu điều tra đến năm 2013.2 Chiều dài và tỷ lệ kiên cố hóa kênh dẫn ở nước ta năm 2013 Tổng chiều dài kênh dẫn Chiều dài kênh đã Tỷ lệ % được nước (km) kiên cố (km) kiên cố Cả nước 235.327 25,7 7 Đồng bằng sông Hồng 61.549 18,9 Trung du và miền núi phía Bắc 42.148 46,9 Bắc Trung Bộ và Duyên hải 54.517 39,7 miền Trung Tây Nguyên 6.888 47,4 Đông Nam Bộ 3.691 50,2 Đồng bằng sông Cửu Long 67.534 3,8 (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2013) Cụ thể hơn, tác giả sẽ trình bày và phân tích chi tiết hơn trong phần tiếp theo về hiện trạng hệ thống tưới, công tác quản lý và các vấn đề còn tồn động trong KTCTTL ở nước ta.1 Hiện trạng các hệ thống tưới ở nước ta Nhìn chung, diện tích đất được tưới trên cả nước tăng 50,4% so với năm trước, mức tăng không cao, trong đó trung du và miền núi phía Bắc đã tăng 26% hơn phân nửa cả nước. Đối với các vụ lúa và rau màu trong năm, đồng bằng sông Cửu Long vẫn là khu vực sản xuất lúa gạo chính trong cả nước với 4.187 nghìn ha lúa trong năm 2013 và 649,2 nghìn ha rau màu cao nhất nước ta.
Vùng đồng bằng này được thiên nhiên ưu đãi, có được những điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, không có mùa đông, địa hình tương đối bằng phẳng và lượng phù sa lớn, cung cấp chất dinh dưỡng cao cho cây trồng cho nên rau màu, dược liệu được dịp sinh sôi phát triển tốt, mang lại 649,2 nghìn ha.3 Kết quả tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp ở nước ta (2013) Đơn vị: Nghìn ha Chia theo vùng Cả Nội dung Đồng Trung du Bắc Trung Tây Đông Đồng nước bằng và miền Bộ và Nguyên Nam bằng 8 sông núi phía Duyên hải Bộ sông Cửu Hồng Bắc miền Long Trung Diện tích được tưới bởi 3.911 CTTL Diện tích không được 6.189 696 tưới bởi CTTL Diện tích đất SX NN đã có công trình đầu mối 148,3 0 0 0,2 148,1 0 0 nhưng chưa có hệ thống kênh Diện tích đất SX NN được tưới tăng lên so với 50,4 2,6 26 9,8 12 0 0 năm trước Kết quả tưới cho lúa, 7.187 trong đó: Vụ Đông Xuân 3.586,4 Vụ Hè Thu 2.657 576,6 339,8 208,5 105,8 57 369,6 Vụ Thu Đông 669 0 1,5 0,9 0,4 8,6 657,7 Kết quả tưới cho rau màu, cây công nghiệp hàng 1.654 294 182 175,6 122,2 230,7 649,2 năm, cây dược liệu 3.518,5 Kết quả tưới cho lúa bằng động lực, trong đó: Vụ Đông Xuân 1.617 490 66,3 237,5 7,9 11,2 803,9 Vụ Hè Thu 800 2,9 141,7 141,7 0,7 8,5 504,7 Vụ Mùa 839 429,6 78,5 106,3 2,6 12,1 210 Kết quả tưới cho rau màu 287 110,1 17,5 25,1 0,3 8,1 125,7 bằng động lực (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2013) Do đó, khi thông tư 280/2016/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành áp dụng trên cả nước đã gây khó khăn cho các khu vực này khi vừa không có ưu thế trong sản xuất còn phải chịu chi phí cao.2 Thực trạng công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi ở nước ta Năm 2013, kết quả điều tra ghi nhận có 2.532 người trong chi cục và 24.796 người thuộc đơn vị quản lý KTCTTL trên cả nước với 4 loại hình đơn vị chính là công ty TNHH MTV, công ty cổ phần, trung tâm quản lý và ban quản lý chịu trách nhiệm 9 KTCTTL cấp tỉnh ở nước ta. Trong đó có 86 công ty TNHH MTV, 4 trung tâm quản lý, 3 ban quản lý và chỉ có 2 công ty cổ phần.4 Số lượng lao động và loại hình của cơ quan, đơn vị làm nhiệm vụ quản lý KTCTTL cấp tỉnh năm 2013 Số lượng lao động (người) Loại hình đơn vị (đơn vị) Công ty Trung Nội dung Đơn vị Công ty Ban quản Tổng Chi Tổng TNHH tâm quản lý Cổ phần lý số cục số MTV Quản lý KTCTTL KTCTTL KTCTTL KTCTTL KTCTTL Cả nước 27.796 95 86 2 4 3 Đồng bằng sông 14.581 34 34 0 0 0 Hồng Trung du và miền 2.193 18 16 1 0 1 núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và duyên hải miền 6.