ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có những thành tựu đáng kể nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất. Theo kết quả điều tra tại thời điểm 01/04/2010 của Tổng cục thống kê, tổng đàn gia cầm của nước ta đạt 277 triệu 437 ngàn con, tăng 8,11% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó gà là 200 triệu 832 ngàn con, tăng 8,4%; Số lượng thịt gia cầm hơi giết bán là 330 ngàn 738,2 tấn, tăng 16,95%; Số lượng trứng gia cầm các loại 3 tỉ 278 triệu 817,2 ngàn quả, tăng 7,07%.
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục thống kê, mức tiêu thụ thịt gà năm 2006 của nước ta là 4,4 kg/người/năm, đến năm 2010 là 6,1 kg/người/năm. Hàng năm, nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn thịt gà, năm 2007 là 50 nghìn tấn, năm 2009 là 61 nghìn tấn và năm 2010 là 59 nghìn tấn. Tại thời điểm 01/04/2014 tổng số gia cầm của cả nước là 314,4 triệu con, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2013. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính bằng 442,8 nghìn tấn tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2013.
Sản lượng trứng gia cầm đạt 4543 quả, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Trước đây, chăn nuôi gà ở nước ta chủ yếu là chăn nuôi theo hướng quảng canh, sử dụng các giống gà địa phương, nguồn thức ăn tận dụng từ gia đình và chăn nuôi nhỏ lẻ. Phương thức chăn nuôi này chủ yếu cung cấp thực phẩm tại chỗ và ít mang lại hiệu quả kinh tế do các giống gà địa phương sinh sản kém, năng suất thấp. Để phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp không thể thiếu con giống có năng suất cao, thời gian nuôi ngắn.
Để đạt được mục tiêu trên, đáp ứng nhu cầu sản xuất ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã tìm và nhập những giống cao sản trên thế giới như: USA – 30MPK, AA, Cobb, Lohman meat, giống gà hướng trứng có Lerghor, ISA brown, Hy line, Brown Nick…Đây là những nguồn gen quý phục vụ cho công tác chọn lọc nhân giống thuần chủng và lai tạo. Trong đó phải kể đến giống gà Lohmann và cụ thể là hai dòng gà Lohmann Meat và Lohmann Big được nuôi tại Yên Dương – Tam Đảo – Vĩnh Phúc. Hai dòng gà 1 c này có nguồn gốc từ Cộng hòa liên bang Đức, là giống gà có ngoại hình đẹp, lông màu trắng tuyền, mỏ, chân, da có màu vàng, mào đỏ tươi. Hai dòng gà này có ưu điểm nổi trội là năng suất thịt và trứng cao, chất lượng thịt tốt, sức đề cao, thích nghi với nhiều phương thức chăn nuôi.
Tuy nhiên ở Việt Nam hai giống gà này chưa được nghiên cứu và đưa và sản xuất nhiều. Để có thể có những định hướng tốt trong việc chọn lựa con giống phù hợp với mục tiêu sản xuất đồng thời đánh giá được mức độ thích nghi của giống gà này với khí hậu nước ta, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Sức sản xuất của hai đàn gà Lohmann Meat và Lohmann Big bố mẹ nuôi tại Yên Dương – Tam Đảo – Vĩnh Phúc”. MỤC ĐÍCH - Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của đàn gà Lohmann Meat và đàn gà Lohmann Big. - Xác định được hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn gà Lohmann Meat và đàn gà Lohmann Big.
- Từ kết quả thu được khi theo dõi đàn gà Lohmann Meat và Lohmann Big góp phần hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng hai giống gà này ở nước ta. YÊU CẦU Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an toàn sinh học trong chăn nuôi của công ty. Số liệu thu được chân thực, khách quan và khoa học. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm về sự sinh trƣởng Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời, liên tục trong cơ thể động vật cũng như cơ thể gia cầm. Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể do kết quả của sự phân chia các tế bào dinh dưỡng. Sự sinh trưởng trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích, tăng các mô tế bào để tạo nên sự sống.
Trong đó tăng số lượng và tăng thể tích tế bào là quá trình quan trọng nhất (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992). Sinh trưởng là một trong bốn đặc trưng cơ bản của sự sống và đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Trần Đình Miên (1995) đã định nghĩa đầy đủ như sau: “Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước”. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein thu nhận từ thức ăn chuyển hóa thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước.
Do đó người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Tuy nhiên cũng có hiện tượng tăng khối lượng cơ thể không do quá trình tổng hợp protein như: sự tích lũy mỡ, tích lũy nước trong cơ thể gia súc, gia cầm. Ở gia cầm, sự tăng trưởng được tính ở hai thời kỳ là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Trong giai đoạn phôi thai chủ yếu phát triển nhờ vào sự gia tăng số lượng các loại tế bào nhằm kiến tạo cơ thể.
Sự trưởng thành sẽ thông qua ba quá trình: phân chia tế bào, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào. Cơ thể sinh vật không phải khi sinh ra đã mang đầy đủ mọi đặc tính của giống, loài về đặc điểm ngoại hình, thể chất hay sức sản xuất mà những đặc tính đó dần được hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của cơ thể con vật. Các đặc tính của các bộ phận được hình thành trong quá trình sinh trưởng tuy chỉ là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng chúng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường. Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn 3 c phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục.
Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tổ chức, chức năng của các bộ phận trong cơ thể. Phát dục của con vật được hình thành từ khi trứng được thụ tinh và trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành. Nói tóm lại sinh trưởng và phát triển luôn liên quan đến nhau, đan xen lẫn nhau và luôn liên quan mật thiết tới môi trường sống. Hai quá trình này không phân biệt và tách rời nhau, sinh trưởng tạo tiền đề cho phát triển, ngược lại phát triển ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của cơ thể trong từng giai đoạn tương ứng.
Trong một cơ thể sống ở bộ phận này có sinh trưởng thì ở bộ phận khác phát dục hoặc quá trình sinh trưởng và phát dục cùng xảy ra đồng thời. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của gia cầm Quá trình sinh trưởng của gia cầm chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bao gồm nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngoài. Mỗi nhóm yếu tố có ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng của gia cầm. Ảnh hưởng của giống, dòng gia cầm Ở gia cầm có nhiều gen ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến một nhóm tính trạng và có gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng lẻ (Chambers 1990).
Trong đó đối với khả năng sinh trưởng của gia cầm thì giống, dòng có ảnh hưởng rất lớn. Do đặc điểm di truyền không giống nhau nên sinh trưởng, phát triển của các giống, dòng gia cầm cũng khác nhau. Nguyễn Mạnh Hùng và cs. (1994) cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13 - 30%) Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng giữa các giống là do yếu tố di truyền và một phần do gen liên kết giới tính.
Như vậy giống, dòng có ảnh hưởng đến sinh trưởng thể hiện qua sự di truyền các đặc điểm của chúng qua đời sau được đặc trưng bởi hệ số di truyền. Hệ số di truyền về tăng tốc độ, tăng khối lượng cơ thể thường biến động trong khoảng 0,26 - 0,7. Ảnh hưởng của tính biệt Giới tính khác nhau thì tốc độ sinh trưởng cũng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái. Theo Phùng Đức Tiến, 1996 gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32%.
Tác giả cũng cho biết sự sai khác này là do gen liên kết giới tính quy định, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn ở gà mái. 4 c Khi mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, sau nhiều tuần tuổi sự khác nhau càng lớn. Do vậy để đạt được hiệu quả cao trong chăn nuôi cần tách và nuôi riêng theo từng tính biệt. Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông Theo Phan Cự Nhân và cs.
(1998) tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền, được quy định bởi alen liên kết giới tính. Đây là tính trạng có liên quan tới đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm, là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục. Gia cầm mọc lông nhanh thì thành thục về thể trạng sớm về chất lượng thịt cũng tốt hơn gia cầm mọc lông chậm. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy dần dần các chất dinh dưỡng mà chủ yếu là tích lũy protein.
Vì vậy dinh dưỡng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ giai đoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia cầm. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994) đã kết luận: “Việc sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà”. Cũng theo Nguyễn Thị Mai (2001): “Hiệu quả sử dụng thức ăn có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gà.