Mở đầu Nêu lên vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, sơ lược về cấu trúc luận văn. Chương 2: Tổng quan Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH ESPRINTA (VN), sơ lược về quá trình hình thành và phát triển, chức năng và mục tiêu của công ty, cơ cầu bộ máy quản lý. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu như các khái niệm, các mô hình, thang đo nghiên cứu về sự hài lòng của công nhân lao động. Đồng thời chương này cũng đề xuất mô hình và nêu lên các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Làm rõ những vấn đề đã nêu trong phần mục tiêu nghiên cứu, từ đó, đề ra một số giải pháp và ý kiến nhằm nâng cao sự hải lòng của công nhân lao động tại Công ty (VN). Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ những khảo sát và đánh giá trên, đưa ra kết luận và đề ra một số kiến nghị đối với phía Công ty. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Tổng quan về nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Armstrong, M. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ qua lại giữa ba cấu trúc hành vi của sự gắn bó với công việc, sự hài long trong công việc và cam kết với tô chức. Theo đó, một mô hình cấu trúc được phát triển để mô tả các tương tác giữa các cấu trúc này và khám phá tác động trung gian của sự hài lòng trong công việc đối với mối quan hệ giữa sự tham gia của công việc và cam kết của tô chức. Một cuộc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế để kiểm tra mô hình nói trên dựa trên bộ dữ liệu gồm 315 nhân viên làm việc tại 12 trong số 26 ngân hang hoạt động ở thủ đô Amman của Jordan.
Mô hình và các giả thuyết đặt ra đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng phân tích mô hình phương trình cấu trúc. Kết quả chỉ ra rằng sự tham gia vào công việc ảnh hưởng tích cực và đáng ké đến sự hài lòng trong công việc và cam kết với tô chức. Ngoài ra, sự hài lòng trong công việc được chứng minh là có liên quan tích cực đến cam kết tô chức. Hơn nữa, sự hài lòng trong công việc làm trung gian một cách tích cực và đáng kể cho mối quan hệ giữa sự tham gia vào công việc và cam kết với tổ chức.
Nghiên cứu của George, JM va Jones, GR (2008) Mục dich của nghiên cứu này là khám phá vai trò của cơ sở hạ tang Quản trị tri thức (KM) (văn hóa tổ chức, cơ cấu tổ chức và công nghệ thông tin) trong việc nâng cao sự hài lòng trong công việc tại các khách san năm sao Aqaba ở Jordan. Tổng cộng có 216 bảng câu hỏi bao gồm 33 mục được sử dụng dé thu thập thông tin từ người trả lời. Phân tích hồi quy bội được thực hiện dé kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết qua của nghiên cứu hiện tại cho thay rang có một tác động tích cực đáng kê của cơ sở hạ tang KM đôi với sự hai lòng trong công việc và những kết quả này phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây được đề cập trong tài liệu, và cũng tiết lộ rằng các khía cạnh của cơ sở hạ tầng KM có ảnh hưởng cao nhất đến sự hài lòng trong công việc là văn hóa tô chức, tiếp theo là công nghệ thông tin; trong khi biến số của cơ cau tô chức không có tác động đáng ké đến nó.
Kết quả T-test cho thấy không có sự khác biệt đáng kê về tác động của cơ sở hạ tầng KM đối với sự hài lòng trong công việc theo hướng có lợi cho giới tính. Ngoài ra, kết qua kiểm định ANOVA cho thấy có sự khác biệt đáng ké về tác động của cơ sở hạ tang KM đến sự hai lòng trong công việc có thé do tuổi tác, trình độ học van và thu nhập cá nhân. Kết quả T-test cho thay không có sự khác biệt đáng kề về tac động của cơ sở hạ tầng KM đối với sự hài lòng trong công việc theo hướng có lợi cho giới tính. Ngoài ra, kết quả kiểm định ANOVA cho thấy có sự khác biệt đáng kể về tác động của cơ sở hạ tầng KM đến sự hài lòng trong công việc có thé do tuổi tác, trình độ học van và thu nhập cá nhân.
Kết quả T-test cho thay không có sự khác biệt đáng kế về tác động của cơ sở hạ tầng KM đối với sự hài lòng trong công việc theo hướng có lợi cho giới tính. Ngoài ra, kết quả kiểm định ANOVA cho thấy có sự khác biệt đáng kế về tác động của cơ sở ha tầng KM đến sự hai lòng trong công việc có thé đo tuổi tác, trình độ học vấn và thu nhập cá nhân. Nghiên cứu của Christen, M. Mục tiêu của bài viết này là làm rõ sự mơ hồ trong tài liệu liên quan đến mối quan hệ giữa ba cấu trúc chính của mối quan hệ công việc: nỗ lực, hiệu suất công việc và sự hài lòng trong công việc.
Mối quan hệ giữa hiệu quả công việc và sự hài lòng trong công việc là mối quan tâm chính của nghiên cứu tâm lý học tổ chức. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực đó cho thấy rằng mối liên hệ giữa các cấu trúc này tốt nhất là yếu. Tác động tiêu cực của nỗ lực đối với sự hài lòng trong công việc phù hợp với lý thuyết người đại diện, nhưng có bằng chứng thực nghiệm hạn chế để hỗ trợ cho giả định này. Hơn nữa, một số nghiên cứu đã tìm thấy tác động tích cực của nỗ lực đối với sự hài lòng trong công việc.
Sử dụng một mô hình kết hợp các cấu trúc chính từ lý thuyết đại diện và tâm lý học tổ chức, nghiên cứu hiện tại tìm thấy tác động trực tiếp, tiêu cực của nỗ lực và tác động tích cực, ảnh hưởng trực tiếp của kết quả công việc đến sự thỏa mãn công việc. Các tác giả chỉ ra rằng những phát hiện mâu thuẫn trong tải liệu là kết quả của sự không nhất quán trong cả phép đo và định nghĩa về các câu trúc trong các nghiên cứu không giải thích day đủ tất cả các mối quan hệ giữa các cau trúc. Những phát hiện hiện tại nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố đại điện cho đầu vào của nhân viên trong mối quan hệ công việc (tức là nỗ lực) và những yếu tố đại diện cho đầu ra của họ (tức là hiệu suất công việc). Bài báo cũng chứng minh tầm quan trọng của việc hạch toán hoặc kiểm soát đúng tất cả các biến số chính đề loại bỏ những sai lệch có thể nảy sinh trong nghiên cứu thực nghiệm về các mối quan hệ công việc.
Các tác giả chỉ ra rằng những phát hiện mâu thuẫn trong tài liệu là kết quả của sự không nhất quán trong cả phép đo và định nghĩa về các cấu trúc trong các nghiên cứu không giải thích đầy đủ tat cả các mỗi quan hệ giữa các cấu trúc. Những phát hiện hiện tại nhắn mạnh sự cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố đại diện cho đầu vào của nhân viên trong mối quan hệ công việc (tức là nỗ lực) và những yếu tố đại điện cho đầu ra của họ (tức là hiệu suất công việc). Bài báo cũng chứng minh tầm quan trọng của việc hạch toán hoặc kiêm soát đúng tat cả các biến số chính dé loại bỏ những sai lệch có thé nay sinh trong nghiên cứu thực nghiệm về các mối quan hệ công việc. Các tác giả chỉ ra rang những phát hiện mâu thuẫn trong tài liệu là kết quả của sự không nhất quán trong cả phép đo và định nghĩa về các cấu trúc trong các nghiên cứu không giải thích đầy đủ tất cả các mối quan hệ giữa các cau trúc.
Những phát hiện hiện tại nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố đại diện cho đầu vào của nhân viên trong mối quan hệ công việc (tức là nỗ lực) và những yếu tố đại điện cho đầu ra của họ (tức là hiệu suất công việc). Bài báo cũng chứng minh tầm quan trọng của việc hạch toán hoặc kiểm soát đúng tat cả các biến số chính đề loại bỏ những sai lệch có thé nảy sinh trong nghiên cứu thực nghiệm về các mối quan hệ công việc. đầu vào trong một mối quan hệ công việc (nghĩa là nỗ lực) và những yếu té đại diện cho đầu ra của chúng (tức là hiệu suất công việc). Bài báo cũng chứng minh tầm quan trọng của việc hạch toán hoặc kiểm soát đúng tất cả các biến số chính đề loại bỏ những sai lệch có thể nảy sinh trong nghiên cứu thực nghiệm về các mối quan hệ công việc.
đầu vào trong một mối quan hệ công việc (nghĩa là nỗ lực) và những yếu tố đại diện cho đầu ra của chúng (tức là hiệu suất công việc). Bài báo cũng chứng minh tầm quan trọng của việc hạch toán hoặc kiểm soát đúng tat cả các biến số chính dé loại bỏ những sai lệch có thé nay sinh trong nghiên cứu thực nghiệm về các môi quan hệ công việc. Nghiên cứu của Sweney, P. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá mức độ hải lòng trong công việc của công nhân tại một nhà máy sản xuất ở Sri Lanka.
Một mẫu gồm 180 nhân viên từ dân số nghiên cứu là 846 người đã được lấy. Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử dụng làm kỹ thuật lấy mẫu. Công cụ được sử dung dé thu thập dữ liệu là một bang câu hỏi được thiết kế bao gồm tất cả các khía cạnh liên quan đến sự hài lòng trong công việc của công nhân nhà máy trong nhà máy sản xuất. Phân tích được thực hiện bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.
Các biến nhân khâu học có liên quan đến sự hài lòng chung trong công việc ở mức ý nghĩa 5% và 4 nhân tố được xác định từ quá trình phân tích nhân tố được sử dụng cho quy trình xây dựng mô hình. Mô hình hồi quy thứ tự được xây dựng bao gồm các yếu tô ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc. Đối với thủ tục lựa chọn biến, phương pháp lựa chọn chuyền tiếp đã được áp dụng.