ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc chưa hiệu quả và bất hợp lý nói chung, trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề cần phải giải quyết của nhiều quốc gia. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và thương hiệu của các cơ sở khám chữa bệnh. Theo các nghiên cứu trên thế giới, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều quốc gia, và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do việc sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [23]. Mặt khác, việc lạm dụng kháng sinh hay số loại thuốc kê trong một đơn quá nhiều, đang có chiều hướng ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Việc phối hợp quá nhiều thuốc trong một đơn là một trong những nguyên nhân làm tăng tình trạng kháng thuốc và tăng chi phí điều trị [21]. Do đó, quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện nhằm tăng cường hiệu quả điều trị, tránh lãng phí có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sử dụng thuốc tại bệnh viện, trong đó, phân tích ABC - VEN danh mục thuốc sử dụng là phương pháp giúp đánh giá một cách tổng quát về số lượng và kinh phí các thuốc đã sử dụng tại bệnh viện ở giai đoạn trước, làm nền tảng cho các hoạt động quản lý sử dụng thuốc ở giai đoạn tiếp theo. Phương pháp phân tích ABC - VEN là phương pháp phân tích dựa trên sự tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách.
Phân tích ABC - VEN là một công cụ hỗ trợ cho việc lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về kinh phí sử dụng thuốc, đã được Bộ Y tế đưa vào quy định ở Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế [4]. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích ABC - VEN để phân tích danh mục thuốc, từ đó phát hiện nhiều bất cập trong sử dụng tại bệnh viện như: Trong nghiên cứu của Vũ Thị Hương trên 38 bệnh viện đa khoa cho thấy: hầu hết thuốc nhóm A của các bệnh viện tuyến tỉnh đều có nhóm Vitamin và khoáng chất với tỷ lệ cao [13]. Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền tại bệnh viện Hữu Nghị cho thấy các thuốc N trong nhóm A chiếm tỷ trọng số lượng tiêu thụ cao, 2 giá trị tiêu thụ lớn trong khi tác dụng không rõ rệt [10]. Nghiên cứu của Phạm Hoàng Chương tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang năm 2014 cho thấy ngân sách sử dụng chỉ tập trung vào thuốc có giá trị cao và sử dụng với số lượng lớn[6].
Nghiên cứu củaThái Phương Phiên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm cho thấy trong các nhóm I, II, III, nhóm I chiếm lên đến 75,56% giá trị sử dụng, chính vì vậy bệnh viện cần ưu tiên mua sử dụng các thuốc nhóm I để giữ ổn định ngân sách hàng năm và luôn sẵn có trong kho để phục vụ cho công tác chữa bệnh [14]. Hạn chế các nghiên cứu nêu trên đa phần chỉ phân tích định lượng dựa trên danh mục thuốc, chưa đi sâu tìm hiểu lý do, yếu tố ảnh hưởng đến những bất cập, hạn chế của việc sử dụng thuốc tại bệnh viện. Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, chuyên điều trị xử trí cấp cứu các bệnh Lao, di chứng do bệnh Lao, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Với đặc thù đó, việc không tuân thủ đúng việc sử dụng thuốc, không áp dụng đúng phác đồ bệnh viện đã ban hành sẽ xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh, dẫn đến tình trạng kháng thuốc ngày càng nhiều, làm tăng mức độ bệnh, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Vì thế, để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong bệnh viện, cần đánh giá việc sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua việc phân tích cơ cấu danh mục thuốc và những yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu này. Từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phân tích ABC - VEN”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phân tích ABC - VEN.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh, phù hợp với mô hình bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng Bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh.
Những thuốc này trong phạm vi không gian, thời gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng đảm bảo, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [29]. Danh mục thuốc Bệnh viện là một Danh mục thuốc thường xuyên được cập nhật các thuốc và các thông tin liên quan tới thuốc đáp ứng nhu cầu lâm sàng của bác sỹ, dược sỹ, các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh cải thiện sức khỏe [30]. Khái niệm danh mục thuốc sản xuất trong nƣớc nƣớc đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp. Danh mục thuốc sản xuất trong nước nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp là danh mục thuốc được xây dựng trên cơ sở các thuốc sản xuất tại các cơ sở sản xuất trong nước đã được cấp giấy đăng ký lưu hành, đáp ứng yêu cầu phòng bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế theo tiêu chí kỹ thuật của thuốc, có giá thuốc hợp lý và có khả năng bảo đảm cung cấp cho các cơ sở y tế trên cả nước.
Danh mục thuốc được cập nhật bổ sung hoặc loại bỏ cho phù hợp tình hình thực tế và bảo đảm đáp ứng kịp thời thuốc phục vụ cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế [5]. Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [4]. Khái niệm phân tích VEN Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc chọn lựa và mua sắm và tồn trữ các thuốc trong Bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua 5 toàn bộ thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN thuốc được chia thành 3 hạng như sau: - Thuốc V (Vital Drugs): Thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu, hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện.
- Thuốc E (Essential Drugs): Thuốc dùng cho các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của Bệnh viện. Sử dụng thuốc tại bệnh viện 1. Thực trạng Sử dụng thuốc chưa hiệu quả và bất hợp lý, đặc biệt là trong các bệnh viện, hiện nay là một vấn đề bất cập có phạm vi ảnh hưởng rộng ở mọi cấp độ chăm sóc y tế. Việc quản lý cung ứng, sử dụng kém hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc, hạn chế khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu, gây lãng phí nguồn kinh phí vốn đã rất hạn hẹp và đặt người bệnh vào tình trạng nguy hiểm [19].
Kết quả khảo sát tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 các thuốc sử dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của danh mục thuốc bệnh viện năm 2012. Nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57.8%, nhóm thuốc tim mạch sử dụng nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12.4%, nhóm thuốc tiêu hóa sử dụng nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6.1%, các nhóm thuốc giảm đau, hạ sôt, chống viêm đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 3. Các nhóm khác còn lại chiếm 19.7%, nhóm thuốc chẩn đoán có kinh phí sử dụng ít nhất chiếm tỷ lệ 0. Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2015, chi phí sử dụng thuốc cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện năm 2015 là 11.
Trong đó có 03 nhóm thuốc chi phí cao nhất gồm: Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn: 5.129 (nghìn đồng) 6 chiếm tỷ lệ 45.75%; Nhóm thuốc tim mạch 1.202 (nghìn đồng) chiếm tỷ lệ 14.48%; Nhóm thuốc đường tiêu hóa 830.009 (nghìn đồng) chiếm tỷ lệ 7. Các nhóm còn lại có tỷ lệ chi phí ít hơn [16]. Kết quả khảo sát tại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2012, kinh phí mua thuốc chiếm 42,98% tổng kinh phí toàn bệnh viện trong năm [7]. Tại bệnh viện đa khoa huyện Nghi Lộc-Nghệ An năm 2012, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ lệ 64,3% trong tổng kinh phí bệnh viện [8].
Theo các báo cáo của IMS Health (Information Management System for Health _ Hệ thống quản lý thông tin y tế) năm 2015, kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường xuyên chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thể ngân sách của một bệnh viện, nó có thể chiếm tỷ trọng tới 40-60% đối với các nước đang phát triển và 15-20% đối với các nước phát triển [25]. Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả công tác khám bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trong 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [1]. Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị Bộ Y tế đã có nhiều văn bản liên quan đến việc quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện. Theo đó, việc sử dụng thuốc trong bệnh viện phải hợp lý, an toàn và có hiệu quả.
Hội đồng thuốc và điều trị có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện trong viện giám sát kê đơn hợp lý, tổ chức theo dõi các phản ứng có hại và các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện, tổ chức thông tin về thuốc.