CHƯƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH THOÁI HÓA ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan thoái hóa đất trên thến giới Chất lượng đất (sức khỏe của đất) được các nhà thổ nhưỡng, nông hóa và sinh thái học đất quan tâm nghiên cứu nhiều trong những thập niên gần đây. Khi chất lượng đất canh tác nông nghiệp giảm xuống đồng nghĩa với sức khỏe đất, độ phì nhiêu đất bị suy giảm vấn đề này cũng là một hiện tượng của suy thoái đất canh tác nông nghiệp, làm cho đất mất sức sản xuất. Vì vậy trong quá trình khải thác sử dụng đất con người cần quan tâm đến sức khỏe đất, nhằm bảo vệ độ phì nhiêu của đất trồng tránh hiện tượng suy thoái đất.
Thoái hóa đất là vấn đề của tất cả các quốc gia trên thế giới. Định nghĩa của FAO[2], xuất phát từ những nghiên cứu về sự suy thoái đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng từ rất lâu do đất trồng trọt là môi trường sản xuất lương thực cho nhân loại. Tổ chức Công ước Liên Hiệp quốc về Phòng chống sa mạc hóa (UNCCD) nhận định: chúng ta đang đứng trước cuộc khủng hỏang không dự liệu trứơc là khỏang 1.5 tỷ người sẽ là nạn nhân của đất nông nghiệp bị thóai hóa, nhất là những nước nghèo đói. Tổ chức này cũng cho biết hiện có 169 nước đang bị tác động của đất thóai hóa, trong đó 116 nước đã cam kết hòan thành mục tiêu ngăn chặn đất thóai hóa FAO[1] đã khảng định qua quá trình đánh giá thực trạng tài đất với quy mô toàn cầu có đến 25% diện tích đang bị thoái hóa nghiêm trọng với nhiều biểu hiện xói mòn, thiếu nước và suy giảm mức độ đa dạng sinh học.
Khoảng 8% diện tích đất bị thoái hóa ở mức vừa phải, 36% ở mức thoái hóa nhẹ hoặc ổng định. Diện tích đất được cải thiện chất lượng thông qua nhân tác chiếm khoảng 10%. Suy thoái đất trở thành vấn đề toàn cầu ở thế kỷ 21, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, theo ước tính cho thấy mức độ suy giảm 60% từ 1950- 2010, cũng theo tính toán có khoảng 500 triệu ha đất vùng nhiệt đới bị suy Luan van 8 thoái (Lamb, D. Hiện tại trên thế giới đang có khoảng 10-20% diện tích đất khô hạn đã bị suy thoái.
Tổng diện tích đất bị ảnh hưởng do quá trình hoang mạc hóa ước tính từ 6-12 triệu km2, lớn hơn so với tổng diện tích đất của Brazil, Canada và Trung Quốc cộng lại. Đất khô hạn đang chiếm tới 43% diện tích đất canh tác của thế giới. Gần 1/3 diện tích đất trồng trọt của thế giới đã bị bỏ hoang trong 40 năm qua do xói mòn không thể sản xuất được. Đặc biệt có tới 9,34 triệu ha đất hoang hóa, trong đó có khoảng 7,85 triệu ha chịu tác động mạnh bởi sa mạc hóa, chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc bạc màu, đang có nguy cơ bị thoái hóa nghiêm trọng.
Trên thế giới có khoảng 1.965 triệu ha, trong đó Châu Á là 749 triệu ha (38%), Châu Âu là 218 triệu ha (11,1%), Châu Đại Dương là 102 triệu ha (5,2%) (Theo Oldeman, L. Cũng theo Oldeman L. Chương trình đánh giá thoái hóa đất do con người ở Nam và Đông Nam Á (GLADSOL) do FAO/UNEP/UNDP/ISRIC[1] tiến hành từ 1991-1997 cho thấy ở Đông Nam Á diện tích đất thoái hóa chiếm trên 45% tổng diện tích. Trong đó chủ đạo là xói mòn do nước (21%); thoái hóa hóa học 24%; xói mòn do gió 20% và thoái hóa vật lý 9%.
Trong số 17 nước Đông Nam Á, Việt nam là một trong 5 nước có xói mòn do nước ở mức từ trung bình tới cực kỳ nghiêm trọng và chiếm 10% diện tích đất bị thoái hóa. Việt Nam cũng ở trong nhóm 8 nước có thoái hóa hóa học do con người gây ra rất đáng kể. Thoái hóa hóa học có biểu hiện phổ biến nhất là giảm độ phì nhiêu chiếm tới 70% diện tích thoái hóa hóa học hay 10% diện tích toàn khu vực và có thể thấy ở Thái lan (25,5 triệu ha); Pakistan (18,5 triệu ha); Campuchia (8,5 triệu ha); Bangladet (7,5 triệu ha). Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của thoái hóa hóa học hầu hết do quản lý sử dụng không đúng đất canh tác.
Về chiều hướng của thoái hóa đất do con người ở khu vực Đông Nam Á thì nguy cơ gia tăng là chủ đạo (75%), chỉ có 25% nguy cơ thoái hóa có chiều hướng giảm dần.2 Tình hình thoái hóa trên thế giới Theo Lal, R (2009) [7], suy thoái đất làm suy giảm chất lượng đất với sự giảm chức năng và dịch vụ của hệ sinh thái. Theo đó, có 4 loại suy thoái đất: vật lý, hóa học, sinh học và sinh thái. Ở vùng nhiệt đới và xích đạo, sự thành lập tầng đất mặt mới ước lượng khoảng 2,5 cm trong 500 năm, trong khi đó sự xói mòn trên đất canh tác có tỉ lệ gấp18 - 100 lần sự thành lập tầng đất mặt mới trong tự nhiên. Sự xói mòn tầng mặt của đất canh tác có tốc độ lớn hơn sự đổi mới thành lập tầng đất mặt, phần lớn tầng đất mặt bị rửa trôi được đưa vào sông hồ, đại dương; người ta ước tính trên thế giới có khoảng 7% lớp đất mặt của đất canh tác bị rửa trôi trong một chu kỳ là 10 năm.
Tỉ lệ xói mòn đất hàng năm ở một số quốc gia được lựa chọn (tấn/ha). Các nước Đất tự nhiên Đất được trồng Đất trơ trọt Trung Quốc 0,1 – 2 150 - 200 280 – 360 Hoa Kì 0,3 – 3 5 – 170 4–9 xtrâylia 0,0 – 64 0,1 – 150 44 – 87 Nigêria 0,5 – 1 0,1 – 35 3 – 150 Ấn Độ 0,5 – 5 0,3 – 40 10 – 185 Êtiôpia 1–5 8 – 42 5 – 70 Bỉ 0,1 – 0,5 3 – 30 7 – 82 Anh 0,1 – 0,5 0,1 – 20 10 – 200 (nguồn Tổ chức Công ước Liên Hiệp quốc về Phòng chống sa mạc hóa) Tỉ lệ xói mòn đất thay đổi theo địa hình, kết cấu của đất, tác động của mưa, sức gió, dòng chảy và đối tượng canh tác. Xói mòn đất do hoạt động của con người xảy ra rất nhanh ở các quốc gia như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nga và Luan van 10 Hoa Kỳ, tính chung các quốc gia này sản xuất hơn 50% số lượng lương thực và chiếm 50% dân số thế giới. Ở Trung Quốc, theo báo cáo hàng năm mặt đất bị bào mòn trung bình 40 tấn cho mỗi ha, trong cả nước có 34% diện tích đất bị bào mòn khốc liệt và làm cho các con sông chứa đầy phù sa.
Ở Ấn Ðộ, xói mòn đất làm sông bị lấp đầy bùn là một vấn đề nghiêm trọng, trong cả nước có khoảng 25% diện tích đất bị bào mòn mạnh. Ở Liên Xô, theo ước tính của The Worldwatch Institute có diện tích đất canh tác lớn nhất và có tầng đất mặt bị xói mòn nhiều nhất thế giới. Ở Hoa Kỳ, theo điều tra của SCS (Soil Conservation Service) ước tính có khoảng 1/3 tầng đất mặt canh tác bị rửa trôi, tỉ lệ xói mòn trung bình là 18 tấn/ha; còn ở Iowa và Missouri hơn 35 tấn/ha. Theo một số phân tích, nếu tỉ lệ xói mòn trung bình 18 tấn/ha thì 50 năm nữa sự thiếu hụt trung bình ngân sách quốc gia khoảng từ 2% - 3% hàng năm.
Người ta tin rằng các điều trên có thể được khắc phục và bù đắp bằng các phương pháp kỹ thuật canh tác mới và việc sử dụng phân bón trong canh tác.3 Các công trình nghiên cứu thoái hóa đất trên thế giới Chương trình đánh giá thoái hóa đất do con người ở Nam và Đông Nam Á (GLADSOL) do FAO/UNEP/UNDP/ISRIC tiến hành từ 1991-1997 [1] cho thấy ở Đông Nam Á diện tích đất thoái hóa chiếm trên 45% tổng diện tích. Trong đó chủ đạo là xói mòn do nước (21%); thoái hóa hóa học 24%; xói mòn do gió 20% và thoái hóa vật lý 9%. Trong số 17 nước Đông Nam Á, Việt nam là một trong 5 nước có xói mòn do nước ở mức từ trung bình tới cực kỳ nghiêm trọng và chiếm 10% diện tích đất bị thoái hóa. Việt Nam cũng ở trong nhóm 8 nước có thoái hóa hóa học do con người gây ra rất đáng kể.
Thoái hóa hóa học có biểu hiện phổ biến nhất là giảm độ phì nhiêu chiếm tới 70% diện tích thoái hóa hóa học hay 10% diện tích toàn khu vực và có thể thấy ở Thái lan (25,5 triệu ha); Pakistan (18,5 triệu ha); Campuchia (8,5 triệu ha); Bangladet (7,5 triệu ha). Tại Ấn Độ, diện tích đất chịu ảnh hưởng của tác nhân gây thoái hóa đất là 199,4 triệu ha, chiếm 60,6% diện tích cà nước. Trong đó, xói mòn do nước Luan van 11 là 152,2 triệu ha (chiếm 46,6%), xói mòn do gió là 15 triệu ha (chiếm 4,6%), ô nhiễm hóa chất 14,9 triệu ha (chiếm 4,5%), ngập úng là 16,3 triệu ha (chiếm 4,9%), (M. Tại Thái Lan, diện tích đất bị xói mòn là 51,40 triệu ha, trong đó được phân cấp mức độ như sau: rất nhẹ (18,99 triệu ha), nhẹ (11,44 triệu ha), trung bình (4,14 triệu ha), mạnh (6,82 triệu ha) và rất mạnh (6,26 triệu ha), (Upatham Potisuwan,1994) [9].
Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của thoái hóa hóa học hầu hết do quản lý sử dụng không đúng đất canh tác. Về chiều hướng của thoái hóa đất do con người ở khu vực Đông Nam Á thì nguy cơ gia tăng là chủ đạo (75%), chỉ có 25% nguy cơ thoái hóa có chiều hướng giảm dần. Rattan Lal (2015) [6] chỉ ra nguyên nhân suy thoái đất bao gồm xói mòn, cạn kiệt carbon, mất đa dạng sinh học, mất cân bằng giữa các loại phân bón và nguyên tố trong đất, acid hóa và mặn hóa. Việc phục hồi chất lượng đất bị thoái hóa bằng cách: giảm thiểu xói mòn, tạo C hữu cơ, đa dạng các loài sinh vật đất, cải thiện cấu trúc đất.
Nông nghiệp bảo tồn bao gồm 4 nguyên tắc chính: (1) duy trì phần tồn dư của cây trồng, (2) kết hợp cây che phủ đất, (3) quản lý dinh dưỡng bằng cách kết hợp phân hóa học và sinh học, (4) hạn chế cày xới đất. *Về các biện pháp phục hồi và bảo vệ đất chống thoái hóa: Chương trình đánh giá thoái hóa đất do con người ở Nam và Đông Nam Á (GLADSOL) [1] cũng chỉ ra rằng: Biện pháp sinh học để bảo vệ, cải tạo đất và biện pháp quản lý sử dụng đất là hai biện pháp chủ đạo giúp giảm thiểu và phục hồi suy thoái đất đáng được khuyến khích.