Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Gà Liên Minh là giống gà nội địa quý hiếm bản địa của người dân thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Về mặt ngoại hình và phẩm chất thịt, giống gà này sở hữu những đặc trưng nổi bật như tầm vóc to lớn, chân cao, lông vàng óng mịn, da vàng, thịt săn chắc, thơm ngọt đậm đà, da giòn và lớp mỡ dưới da mỏng. Giống có khả năng thích nghi tốt với phương thức chăn thả, chịu đựng được điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng và có sức đề kháng bệnh tự nhiên cao. Gà Liên Minh đã được chứng nhận nhãn hiệu tập thể, cấp chỉ dẫn địa lý và là một trong 18 sản phẩm đặc sản của thành phố Hải Phòng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa giống gà này vào danh mục nguồn gen vật nuôi quý hiếm cần bảo tồn từ năm 2008 và chính thức ban hành trong danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam theo Thông tư số 01/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/01/2018.
Tuy nhiên, nguồn gen gà Liên Minh từng rơi vào mức độ đe dọa nguy hiểm theo tiêu chí đánh giá của FAO (2007). Tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông tự do tại các hộ dân ở đảo Cát Bà qua nhiều năm đã dẫn đến hiện tượng lai tạp và giao phối cận huyết nghiêm trọng, làm suy giảm khối lượng cơ thể qua các thế hệ. Các khảo sát thực địa của Bùi Hữu Đoàn và cộng sự (2016) trên 30 hộ chăn nuôi tại xã Trân Châu cho thấy gà nuôi theo tập quán truyền thống có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khá muộn (197,5 ngày tuổi), khối lượng cơ thể lúc vào đẻ đạt 2,25 kg, năng suất trứng thấp (75,6 quả/mái/năm) và khối lượng trứng trung bình là 49,8 g. Gà có chu kỳ khai thác sinh sản kéo dài từ 2 đến 3 năm, gây khó khăn lớn cho việc nhân đàn và phát triển chăn nuôi hàng hóa quy mô lớn.
Trong công tác giống gia cầm, hai tính trạng sinh sản và tăng trọng luôn có mối tương quan di truyền nghịch (tương quan âm). Việc chọn lọc cá thể có khối lượng lớn để tăng năng suất thịt sẽ kéo theo sự suy giảm tỷ lệ đẻ trứng. Do đó, các nhà khoa học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã định hướng chọn tạo thành hai dòng chuyên biệt: dòng trống (dòng A) chọn lọc theo hướng nâng cao khối lượng cơ thể và dòng mái (dòng B) chọn lọc theo hướng tăng năng suất trứng, phục vụ công thức lai thương phẩm thịt. Khóa luận này được triển khai nhằm đánh giá dòng trống ở thế hệ chọn lọc thứ 5.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp các thông tin khoa học cơ bản về đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà Liên Minh dòng trống thế hệ 5, tạo tiền đề dữ liệu cho các nhà khoa học và cơ sở sản xuất ứng dụng phát triển nguồn gen.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá các đặc điểm ngoại hình và sự phân hóa màu lông của đàn gà qua các giai đoạn tuổi.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, tốc độ tăng khối lượng, kích thước các chiều đo cơ thể, tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn gà Liên Minh dòng trống thế hệ 5 từ sơ sinh đến 20 tuần tuổi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà Liên Minh thế hệ thứ 5 dòng trống từ 0 đến 20 tuần tuổi sinh ra từ bố mẹ thế hệ thứ 4, được nuôi so sánh song song với đàn gà Liên Minh quần thể thu thập từ các hộ dân chưa qua chọn lọc giống.
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty Cổ phần Khai thác Khoáng sản Thiên Thuận Tường Quảng Ninh (phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 19/08/2022 đến ngày 19/12/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý di truyền học động vật và sinh lý gia cầm:
- Bản chất di truyền tính trạng chất lượng: Theo H. Biichel, các đặc điểm sinh học như màu lông, màu da, màu mắt, kiểu mào do ít gen quy định, có hiệu ứng lớn, di truyền theo các quy luật Mendel (đồng tính, phân ly, độc lập) và ít chịu tác động bởi môi trường ngoại cảnh.
- Bản chất di truyền tính trạng số lượng: Theo Trần Đình Miên (1995), các tính trạng kinh tế quan trọng như khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng, kích thước chiều đo chịu sự kiểm soát của hệ đa gen (polygene) với giá trị kiểu hình biểu diễn theo công thức: $P = G + E = A + D + I + E_g + E_s$ (trong đó $A$ là giá trị cộng gộp, $D$ là ảnh hưởng trội, $I$ là ảnh hưởng tương tác, $E_g$ và $E_s$ là sai lệch môi trường chung và môi trường riêng). Trong công tác giống, giá trị cộng gộp $A$ là thành phần cốt lõi được bảo tồn và tích lũy qua các thế hệ chọn lọc.
- Động thái sinh trưởng gia cầm: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp và tích lũy các chất hữu cơ, chủ yếu là protein, biểu hiện qua sự biến đổi kích thước, thể tích và khối lượng cơ thể. Tốc độ sinh trưởng được mô tả qua mô hình đường cong 4 pha của Chambers (1990): pha tăng tốc sau nở, điểm uốn đạt tốc độ tăng trọng cực đại, pha giảm tốc và pha tiệm cận khi trưởng thành.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo phương pháp so sánh cặp đôi giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng trong điều kiện bán chăn thả:
| Chỉ tiêu bố trí |
Lô đối chứng (ĐC) |
Lô thí nghiệm (TN) |
| Nguồn gốc con giống |
Đàn gà quần thể chưa chọn lọc |
Gà thế hệ thứ 5 dòng trống |
| Số gà trong mỗi lần lặp |
70 con (35 trống, 35 mái) |
70 con (35 trống, 35 mái) |
| Số lần lặp lại |
3 lần |
3 lần |
| Tổng số gà theo dõi |
210 con |
210 con |
| Phương thức nuôi dưỡng |
Bán chăn thả |
Bán chăn thả |
Quy trình kỹ thuật và chăm sóc:
- Giai đoạn úm từ 1 đến 21 ngày tuổi: Nuôi trong quây úm có chụp sưởi điều chỉnh nhiệt độ giảm dần theo tuần tuổi: tuần 1 duy trì 33 - 35°C dưới đèn; tuần 2 là 32°C; tuần 3 là 28°C; tuần 4 là 20 - 22°C; từ tuần 5 trở đi duy trì 20 - 21°C. Nước uống giai đoạn đầu được bổ sung kháng sinh phòng bệnh, B-complex và đường Glucose. Mật độ nuôi giảm dần từ 18 - 20 con/m² (0 - 3 tuần), 14 - 16 con/m² (4 - 6 tuần), 10 - 12 con/m² (7 - 9 tuần) xuống 8 - 10 con/m² (10 - 20 tuần).
- Chế độ dinh dưỡng: Giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi sử dụng thức ăn có protein thô (CP) tối thiểu 19%, năng lượng trao đổi (ME) 2600 kcal/kg; giai đoạn 4 - 7 tuần tuổi có CP tối thiểu 19%, ME 2900 kcal/kg; giai đoạn 8 - 16 tuần tuổi dùng thức ăn gà hậu bị có CP 16%, ME 2800 kcal/kg; giai đoạn 17 - 20 tuần tuổi dùng thức ăn có CP 17%, ME 2600 kcal/kg. Đàn gà được cho ăn tự do từ 0 đến 9 tuần tuổi và chuyển sang chế độ ăn định lượng hạn chế từ tuần tuổi thứ 10.
- Phòng bệnh bằng vắc-xin: Đàn gà được tiêm phòng đầy đủ theo quy trình: Marek đa giá (1 ngày tuổi), Newcastle chủng F (3 và 21 ngày tuổi), ND-IB (5 và 30 ngày tuổi), Đậu màng cánh (7 ngày tuổi), Gumboro (10 và 24 ngày tuổi), Cúm gia cầm H5N1 (15 ngày tuổi và 4 - 6 tháng), Tụ huyết trùng (40 - 45 ngày tuổi và 4 - 6 tháng), Newcastle chủng M (60 ngày tuổi và 4 - 6 tháng).
Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
- Ngoại hình: Quan sát bằng mắt thường và ghi nhận trên toàn bộ 210 cá thể ở 1 ngày tuổi, 8 tuần tuổi và 20 tuần tuổi.
- Chiều đo cơ thể: Thực hiện đo bằng thước dây trên 30 cá thể ở thời điểm 20 tuần tuổi theo phương pháp của Bùi Hữu Đoàn và cs. (2011), bao gồm: dài thân, dài lườn, vòng ngực, dài cánh, dài đùi, cao chân và vòng ống chân.
- Khối lượng và sinh trưởng: Cân cá thể vào 6 giờ sáng thứ Bảy hàng tuần trước khi cho ăn (cân mẫu 50 con/lần; dùng cân kỹ thuật cho giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi, cân đồng hồ 2 kg cho giai đoạn 5 - 9 tuần tuổi và cân đồng hồ 5 kg cho giai đoạn 10 - 20 tuần tuổi).
- Số liệu được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 19 và Microsoft Excel để xác định giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($SE$), hệ số biến thiên ($Cv%$) và kiểm định sai khác bằng phép thử Duncan ở ngưỡng ý nghĩa $P < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày vị trí địa lý, tính cấp thiết của việc bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Liên Minh huyện đảo Cát Hải. Chương này luận giải nguyên lý chọn giống hiện đại: do tương quan âm giữa tính trạng khối lượng thịt và sản lượng trứng, việc chọn tạo dòng trống hướng thịt tách biệt với dòng mái hướng trứng là giải pháp khoa học để nâng cao giá trị thương phẩm. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác lập nhằm kiểm tra các chỉ tiêu ngoại hình, tỷ lệ nuôi sống và các thông số sinh trưởng của dòng trống thế hệ thứ 5.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về gà Liên Minh và cơ sở lý luận chọn giống gia cầm:
- Dẫn chứng lịch sử nghiên cứu từ khi phát hiện giống năm 2008, xếp loại mức độ nguy cấp của FAO (2007) và các thông số sản xuất ban đầu của Bùi Hữu Đoàn và cs. (2016) trên gà nuôi nông hộ (khối lượng trưởng thành con trống trên 4 kg, cá biệt đạt gần 5 kg; con mái trên 3 kg; tuổi đẻ 197,5 ngày; sản lượng trứng 75,6 quả/năm).
- Trình bày cơ sở di truyền học của các tính trạng chất lượng (màu lông, dạng mào, da chân) và tính trạng số lượng (khối lượng, tốc độ tăng trọng, FCR do tối thiểu 15 cặp gen kiểm soát).
- Phân tích các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia cầm: nhiệt độ gây stress nhiệt làm thay đổi khả năng hấp thu axit amin, độ ẩm chuồng nuôi tối ưu (65 - 70%), mật độ nuôi và chế độ chiếu sáng ngắt quãng theo quy trình của Bùi Hữu Đoàn và cs. (2020).
- Đánh giá bối cảnh ngành chăn nuôi gia cầm trong nước và thế giới giai đoạn 2020 - 2021 chịu tác động kép từ đại dịch COVID-19 và biến động giá thức ăn chăn nuôi, dẫn đến xu thế chuyển dịch từ chăn nuôi phân tán sang các chuỗi liên kết trang trại.
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết quy cách tổ chức thí nghiệm tại cơ sở Thiên Thuận Tường Quảng Ninh từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2022:
- Quy mô 420 con gà (210 con lô TN thế hệ 5 dòng trống và 210 con lô ĐC đàn quần thể), thiết kế 3 lần lặp lại, cân bằng tỷ lệ giới tính 35 trống : 35 mái ở mỗi lô.
- Quy chuẩn định mức chuồng trại, hệ thống quây úm, bảng nhiệt độ sưởi ấm 5 cấp độ, bảng tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn 4 giai đoạn sinh trưởng và quy trình phòng trừ dịch bệnh qua 11 mốc tiêm phòng vắc-xin.
- Phương pháp luận đo đạc 7 chiều đo giải phẫu cơ thể học và công thức tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối ($A$), sinh trưởng tương đối ($R$), thức ăn thu nhận và tỷ lệ nuôi sống.
Phần IV: Kết quả và thảo luận
Chương này tập trung toàn bộ các số liệu thực nghiệm thu thập được qua 20 tuần theo dõi:
- Đặc điểm ngoại hình: Gà 1 ngày tuổi phân thành 2 nhóm màu lông (nhóm 1 toàn thân vàng sáng; nhóm 2 vàng sáng có vệt lông sẫm ở lưng; mỏ và da chân đều màu vàng). Gà 8 tuần tuổi bắt đầu biểu hiện tính trạng giới tính thứ cấp: con trống mọc lông cánh đen, vai màu vàng đậm; con mái có lông toàn thân vàng sáng, đầu cánh và chót đuôi đen, vùng cổ có cườm sẫm. Đến 20 tuần tuổi, gà trống có lông toàn thân màu vàng đỏ sáng, vùng cổ, lưng và cánh vàng sẫm, lông đuôi và đầu cánh màu xanh đen, mào cờ phát triển; gà mái có lông vàng rơm, chót đuôi đen, mào đơn màu hồng đỏ, da chân và mỏ màu vàng sẫm.
- Kích thước chiều đo cơ thể lúc 20 tuần tuổi (n = 30 cá thể/giới tính):
| Chiều đo (cm) |
Gà mái ($\bar{X} \pm SE$) |
$Cv%$ |
Gà trống ($\bar{X} \pm SE$) |
$Cv%$ |
| Dài thân |
21,07 |
0,82 |
22,72 |
1,36 |
| Dài lườn |
14,25 |
1,80 |
17,12 |
3,30 |
| Vòng ngực |
27,72 |
1,10 |
31,31 |
0,55 |
| Dài cánh |
21,22 |
0,23 |
21,93 |
0,63 |
| Dài đùi |
19,28 |
0,58 |
21,73 |
0,31 |
| Cao chân |
7,00 |
1,18 |
11,21 |
0,51 |
| Vòng chân |
4,78 |
5,81 |
5,50 |
2,42 |
Gà trống thể hiện ưu thế vượt trội về kích thước cơ thể so với gà mái, đặc biệt là chiều cao chân (11,21 cm ở con trống so với 7,00 cm ở con mái) và vòng ngực (31,31 cm so với 27,72 cm). So sánh với số liệu gà Mía của Lê Thị Thu Hiền (2015), gà Liên Minh thế hệ 5 có số đo dài thân, dài đùi, vòng ngực tương đương nhưng chiều cao chân của gà trống Liên Minh lớn hơn rõ rệt (11,21 cm so với 8,18 - 8,87 cm ở gà Mía).
-
Tỷ lệ nuôi sống: Trong giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi, tỷ lệ sống đạt 96,26% ở lô thí nghiệm và 95,39% ở lô đối chứng. Hao hụt xảy ra nhiều nhất ở các tuần đầu tiên do gà non chưa hoàn thiện khả năng điều hòa thân nhiệt. Tính chung cả giai đoạn từ 0 đến 20 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của lô thí nghiệm đạt 93,68%, cao hơn mức 90,89% của lô đối chứng. Đàn gà không bộc phát dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; các ca chết rải rác được xác định do bệnh cầu trùng và ORT trên một số cá thể.
-
Khả năng sinh trưởng của gà trống:
- Khối lượng cơ thể: Sơ sinh đạt 34,57 g (lô TN) và 33,05 g (lô ĐC); 4 tuần tuổi đạt 290,99 g (TN) so với 279,29 g (ĐC); 8 tuần tuổi đạt 819,32 g (TN) so với 765,98 g (ĐC); 12 tuần tuổi đạt 1563,68 g (TN) so với 1373,22 g (ĐC); 16 tuần tuổi đạt 1951,23 g (TN) so với 1783,45 g (ĐC); 20 tuần tuổi đạt 2235,47 g (TN) so với 2028,86 g (ĐC). Khối lượng gà trống lô thí nghiệm ở tuần 20 cao hơn lô đối chứng 9,24% với sai khác có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$).
- Sinh trưởng tương đối ($R$): Cao nhất ở giai đoạn 1 - 2 tuần tuổi (61,96% ở lô TN và 62,34% ở lô ĐC), sau đó giảm dần theo đồ thị hypebol; tính trung bình cả kỳ nuôi đạt 20,70% (TN) và 20,28% (ĐC).
- Sinh trưởng tuyệt đối ($A$): Tăng dần trong các tuần đầu, đạt đỉnh cực đại ở giai đoạn 10 - 11 tuần tuổi với giá trị 213,72 g/con/tuần (lô TN) và 195,40 g/con/tuần (lô ĐC), sau đó giảm dần theo dạng parabol. Tính bình quân toàn kỳ 0 - 20 tuần tuổi, sinh trưởng tuyệt đối của gà trống lô TN đạt 110,04 g/con/tuần, cao hơn lô ĐC (99,79 g/con/tuần).
-
Khả năng sinh trưởng của gà mái dòng trống:
- Khối lượng cơ thể: Khối lượng sơ sinh đạt 33,84 g (TN) và 33,16 g (ĐC); 8 tuần tuổi đạt 712,04 g (TN) so với 658,70 g (ĐC); 20 tuần tuổi đạt 1740,92 g (TN) so với 1589,46 g (ĐC). Sự sai khác giữa lô chọn lọc và lô đối chứng ở tuần thứ 20 đạt 151,46 g/con (chênh lệch 8,69%, $P < 0,05$). Khối lượng thực tế của gà mái thế hệ 5 tại thời điểm 8 tuần (712,04 g) và 20 tuần (1740,92 g) đều vượt từ 2 - 5% so với chỉ tiêu đề ra trong bản thuyết minh đề tài (yêu cầu đạt 628,07 g ở 8 tuần và 1600 - 1700 g ở 20 tuần).
- Tốc độ sinh trưởng: Giai đoạn 1 - 5 tuần tuổi, tốc độ sinh trưởng của gà trống và gà mái tương đương nhau; từ tuần thứ 6 trở đi, con trống bứt phá nhanh hơn; đến tuần thứ 15, tốc độ tăng khối lượng của con mái chậm lại do bắt đầu thành thục về thể vóc. Sinh trưởng tương đối của gà mái đạt đỉnh ở tuần 1 - 2 (59,85%), bình quân cả giai đoạn đạt 19,43%.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng cụ thể các chỉ tiêu năng suất của đàn gà Liên Minh dòng trống thế hệ 5 qua các kết quả then chốt sau:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Lô đối chứng (quần thể) |
Lô thí nghiệm (thế hệ 5) |
Sai khác / Hiệu quả |
| Tỷ lệ sống giai đoạn 0 - 8 tuần |
95,39% |
96,26% |
Tăng 0,87% |
| Tỷ lệ sống toàn kỳ (0 - 20 tuần) |
90,89% |
93,68% |
Tăng 2,79% |
| Khối lượng gà trống lúc 20 tuần tuổi |
2028,86 ± 15,30 g |
2235,47 ± 16,32 g |
Cao hơn 9,24% ($P < 0,05$) |
| Khối lượng gà mái lúc 20 tuần tuổi |
1589,46 ± 21,40 g |
1740,92 ± 14,21 g |
Cao hơn 8,69% ($P < 0,05$) |
| Khối lượng gà mái lúc 8 tuần tuổi |
658,70 ± 2,88 g |
712,04 ± 3,20 g |
Vượt thuyết minh đề tài |
| Đỉnh sinh trưởng tuyệt đối gà trống |
195,40 g/con/tuần (tuần 10 - 11) |
213,72 g/con/tuần (tuần 10 - 11) |
Tăng 18,32 g/con/tuần |
| Chiều cao chân gà trống 20 tuần |
— |
11,21 ± 0,51 cm |
Vượt trội so với gà Mía |
Đề xuất giải pháp và đóng góp khoa học của tác giả:
- Về mặt chọn giống: Nghiên cứu khẳng định hiệu quả của công tác chọn lọc cá thể qua 5 thế hệ liên tiếp. Đàn gà dòng trống thế hệ 5 có độ đồng đều cao về ngoại hình, màu lông vàng đỏ sáng đặc trưng, cải thiện rõ rệt tầm vóc cơ thể và sức kháng bệnh so với quần thể ban đầu chưa chọn lọc.
- Về mặt đóng góp so sánh: Tác giả chứng minh dòng trống thế hệ 5 có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối vượt trội ở giai đoạn 9 - 12 tuần tuổi, tạo cơ sở cho việc xác định thời điểm kết thúc nuôi hậu bị hoặc xuất bán thịt đạt hiệu quả kinh tế cao. So với các dòng gà thịt bản địa đã công bố như gà Mía (Lê Thị Thu Hiền, 2015; Hồ Xuân Tùng và cs., 2011) hay gà TP4 (Phùng Đức Tiến và cs., 2012), gà Liên Minh dòng trống thế hệ 5 biểu hiện ưu thế rõ rệt về chiều dài thân, vòng ngực và chiều cao chân.
- Khẳng định tính khả thi của việc sử dụng gà trống thế hệ 5 làm dòng bố (dòng A) để phối với dòng mái chuyên trứng (dòng B) nhằm tạo đàn gà thịt thương phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi triển khai thực tế:
- Giới hạn thời gian theo dõi: Đề tài mới dừng lại ở việc đánh giá giai đoạn hậu bị từ sơ sinh đến 20 tuần tuổi. Các chỉ tiêu về sinh sản của dòng trống (chất lượng tinh dịch, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ ấp nở khi bước vào giai đoạn sinh sản) chưa được khảo sát trong nghiên cứu này.
- Chưa khảo sát năng suất thân thịt qua mổ khảo sát: Nghiên cứu chưa cung cấp các số liệu thực nghiệm về tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực và phân tích thành phần hóa học hay phẩm chất thịt xẻ tại thời điểm 20 tuần tuổi.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại một cơ sở chăn nuôi tập trung duy nhất (Công ty Cổ phần Khai thác Khoáng sản Thiên Thuận Tường tại Quảng Ninh), chưa có điều kiện đánh giá mở rộng trên các phương thức chăn nuôi nông hộ tại vùng nguyên sản đảo Cát Bà.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Tiếp tục theo dõi đàn gà thế hệ thứ 5 bước vào giai đoạn thành thục sinh dục để đánh giá khả năng phối giống của con trống và các chỉ tiêu sinh sản.
- Thực hiện lai ghép thử nghiệm giữa gà trống dòng A với gà mái dòng B để đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và chất lượng thịt của con lai thương phẩm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị sử dụng và tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm chọn giống gia cầm thực địa, kỹ thuật thu thập kích thước các chiều đo giải phẫu (dài thân, lườn, cánh, đùi, vòng ngực, vòng chân) và phương pháp xử lý số liệu sinh trắc học trên phần mềm Minitab.
- Các nhà nghiên cứu và cơ sở bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa: Cung cấp hệ thống dữ liệu số thực nghiệm chuẩn xác về các mốc khối lượng, tỷ lệ nuôi sống và đường cong sinh trưởng của giống gà Liên Minh sau 5 thế hệ chọn lọc nhân thuần.
- Kỹ sư chăn nuôi và chủ trang trại: Phần quy trình kỹ thuật úm gà, khung nhiệt độ sưởi ấm, tiêu chuẩn dinh dưỡng 4 giai đoạn và lịch trình tiêm phòng vắc-xin 11 mốc tuổi là tài liệu thực hành hữu ích để áp dụng trực tiếp vào quy trình chăn nuôi gà bản địa thể hình lớn theo phương thức bán chăn thả an toàn sinh học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao đề tài lại chọn tạo riêng dòng trống (dòng A) và dòng mái (dòng B) thay vì chọn lọc đồng thời trên cùng một đàn gà Liên Minh?
Do trong sinh học di truyền gia cầm, tính trạng sinh sản (sản lượng trứng) và tính trạng tăng trọng (khối lượng thịt) có mối tương quan di truyền âm. Khi tập trung chọn lọc các cá thể có khối lượng lớn để lấy thịt thì năng suất đẻ trứng của chúng sẽ giảm sút. Do đó, việc tách đàn thành dòng trống chọn lọc hướng thịt và dòng mái chọn lọc hướng trứng là nguyên lý bắt buộc để khi lai chéo giữa hai dòng sẽ thu được con lai thương phẩm vừa có tốc độ lớn nhanh vừa tối ưu được giá thành con giống.
2. Khối lượng cơ thể gà trống và gà mái Liên Minh dòng trống thế hệ 5 ở thời điểm 20 tuần tuổi đạt bao nhiêu và chênh lệch thế nào so với đàn đối chứng?
Ở thời điểm 20 tuần tuổi, gà trống thế hệ 5 đạt khối lượng trung bình 2235,47 g/con, cao hơn đàn đối chứng chưa chọn lọc (2028,86 g/con) là 9,24% ($P < 0,05$). Gà mái thế hệ 5 đạt 1740,92 g/con, cao hơn đàn đối chứng (1589,46 g/con) là 8,69% ($P < 0,05$). Cả hai giới tính đều cho thấy hiệu quả nâng cao tầm vóc rõ rệt qua 5 thế hệ chọn lọc.
3. Chỉ tiêu kích thước nào thể hiện rõ nhất đặc trưng tầm vóc của gà Liên Minh so với các giống gà bản địa khác?
Đó là chiều cao chân và vòng ngực lúc 20 tuần tuổi. Gà trống Liên Minh có chiều cao chân đạt 11,21 cm và vòng ngực đạt 31,31 cm. So sánh với giống gà Mía (Lê Thị Thu Hiền, 2015) có chiều cao chân chỉ từ 8,18 đến 8,87 cm, gà trống Liên Minh thể hiện thể hình cao ráo vượt trội, đúng với đặc trưng ngoại hình chân cao, thân to của giống gà đặc sản đảo Cát Bà.
4. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thế hệ 5 đạt bao nhiêu và hao hụt tập trung chủ yếu vào giai đoạn nào?
Tính chung toàn kỳ từ sơ sinh đến 20 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm đạt 93,68% (cao hơn lô đối chứng đạt 90,89%). Hiện tượng hao hụt tập trung chủ yếu ở giai đoạn gà con từ 0 đến 8 tuần tuổi (tỷ lệ sống đạt 96,26%) do chức năng điều tiết thân nhiệt của gà con chưa hoàn chỉnh và sức đề kháng còn non yếu, một số cá thể chết rải rác do mắc bệnh cầu trùng và ORT.
5. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà trống Liên Minh đạt giá trị cao nhất ở tuần tuổi nào?
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà trống Liên Minh thế hệ 5 đạt đỉnh cực đại ở tuần tuổi thứ 10 - 11 với mức tăng trọng đạt 213,72 g/con/tuần (tương ứng khoảng 30,53 g/con/ngày), cao hơn mức đỉnh 195,40 g/con/tuần của lô đối chứng. Sau giai đoạn này, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối giảm dần theo quy luật tự nhiên của gia cầm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Huệ đã hoàn thành việc theo dõi, thu thập và phân tích có hệ thống các chỉ tiêu ngoại hình, tỷ lệ sống và các thông số sinh trưởng của đàn gà Liên Minh dòng trống thế hệ 5 từ sơ sinh đến 20 tuần tuổi tại Quảng Ninh. Kết quả thực nghiệm khẳng định đàn gà thế hệ 5 có độ đồng nhất cao về ngoại hình, sức sống tốt với tỷ lệ nuôi sống toàn kỳ đạt 93,68%, khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi đạt 2235,47 g ở con trống và 1740,92 g ở con mái (đều vượt trội có ý nghĩa thống kê so với đàn đối chứng). Công trình đã cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, khẳng định hiệu quả của quá trình chọn lọc nhân thuần và tạo nguồn vật liệu di truyền tin cậy phục vụ công tác bảo tồn, phát triển giống gà đặc sản Liên Minh theo hướng sản xuất hàng hóa.