ĐẶT VẤN ĐỀ Gà Liên Minh là giống gà bản địa, mang nhiều đặc tính quý, thịt thơm ngon, gắn liền với sự phát triển kinh tế của người dân thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Là giống gà có đặc điểm đẹp về ngoại hình và màu sắc lông, da vàng, phẩm chất thịt thơm ngon. Gà Liên Minh có thân to, rất đẹp, ngoại hình rất đặc trưng, con trống nặng trên 4 kg, cá biệt có cá thể nặng gần 5 kg, lông màu vàng nhạt và cánh gián, mào đơn, con mái chủ yếu màu vàng rơm, nặng trên 3kg. Đặc biệt sản lượng trứng rất thấp, chỉ đạt khoảng 75-78 quả/mái/năm.
Gà Liên Minh thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng đề kháng rất cao và rất được thị trường ưa chuộng vì lớp mỡ dưới da mỏng, da giòn, thịt gà chắc, dai, có vị ngọt, đậm và mùi thơm đặc trưng; thịt gà Liên Minh đã trở thành đặc sản, có giá trị kinh tế cao. Ngày 16 tháng 01 năm 2018, Bộ NN và PTNT đã ban hành thông tư số 01/2018/TT-BNNPTNT, công bố danh mục giống vật nuôi được sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có giống gà Liên Minh Gà Liên Minh là một “thương hiệu” đáng tự hào của xã Trân Châu và huyện đảo. Đến nay, gà Liên Minh trong thôn Liên Minh về cơ bản vẫn chưa bị lai tạp và thoái hóa là do người dân thôn Liên Minh từ nhiều năm nay cùng nhau đề ra một quy ước và thực hiện rất nghiêm túc là tuyệt đối không đưa giống gà từ nơi khác về nuôi và lai tạo, nhằm bảo tồn nguồn gen thuần chủng này. Để đáp ứng nhu cầu về số lượng thực phẩm cho xã hội, chúng ta đã nhập khẩu nhiều giống gà công nghiệp có năng suất cao.
Số lượng các trang trại cũng như quy mô chăn nuôi không ngừng tăng cao qua các năm. Do vậy, các giống gà địa phương năng suất thấp đã bị thu hẹp, có giống đã bị tuyệt chủng. 1 Hiện nay do tình hình kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng lên thì nhu cầu sản phẩm gia cầm chất lượng cao nói chung và gà nói riêng ngày càng lớn. Với khả năng thích ứng cao, chất lượng thịt thơm ngon cũng như đặc trưng cho một nét văn hóa, đồng thời giữ gìn sự đa dạng của các giống gà trong nước thì gà Liên Minh nên được quan tâm trong việc bảo tồn và phát triển.
Để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển gà Liên Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà liên minh thế hệ 4 giai đoạn mới nở đến 20 tuần tuổi ” 1. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu tổng quát Cung cấp một số thông tin cơ bản về đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà Liên Minh thế hệ 4 cho các nhà khoa học và nhà chăn nuôi để làm cơ sở phát triển giống gà này. Mục tiêu cụ thể Đánh giá đặc điểm ngoại hình.
Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà liên minh thế hệ 4 giai đoạn mới nở đến 20 tuần tuổi. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ LIÊN MINH Gà Liên Minh là giống gà địa phương dễ nuôi, sức chống chịu bệnh tật tốt, mùi vị thơm ngon và giá bán cao nhưng khả năng sinh trưởng thấp, năng suất trứng thấp và tiêu tốn thức ăn cao. Nó được coi là một trong mười tám đặc sản đặt trưng được chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của đảo Cát Bà.
Là giống gà được phát hiện và đưa vào danh sách bảo tồn từ năm 2008. Khi mới được phát hiện, tình trạng nguồn gen gà Liên Minh theo tiêu chí đánh giá của FAO (2007a) ở mức độ đe dọa nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc chăn nuôi gà Liên Minh theo hình thức nhỏ lẻ, chăn thả tự do làm gà bị lai tạp; tự chọn lọc và nhân giống tại mỗi gia đình nên xảy ra hiện tượng cận huyết, khối lượng cơ thể gà giảm dần qua các thế hệ. Do mới được phát hiện nên có rất ít nghiên cứu được tiến hành trên giống gà Liên Minh đã đựợc thông báo.
Bùi Hữu Đoàn và cs., (2016) nghiên cứu trên 30 hộ tại xã Trân Châu, huyện Cát Hải đã chỉ ra rằng gà Liên Minh nuôi tại hộ theo phương thức chăn thả đẻ trứng ở 197,5 ngày tuổi tương ứng với khối lượng cơ thể 2,25kg/con, số lượng trứng 75,6 quả/mái/năm, khối lượng trứng trung bình 49,8g. Tác giả cũng cho biết, gà Liên Minh sinh sản ở độ tuổi khá cao từ 2-3 năm tuổi - đây cũng là một trong những lý do làm cho năng suất sinh sản của giống là thấp và khó phát triển rộng rãi ra sản xuất nếu tiếp tục nuôi theo tập quán truyền thống của địa phương. Gà Liên minh là một giống gà quý, có ngoại hình vô cùng đặc trưng, tương đối đồng nhất và rất đẹp, không giống với bất cứ giống gà nào, nhất là gà thân to khác ở nước ta.Mức độ đồng nhất về màu lông của gà Liên Minh có sự khác biệt theo vùng điều tra. Gà Liên Minh cũng được Bộ NN – PTNT đưa giống gà Liên Minh vào vào danh mục nguồn gen vật nuôi quý hiếm cần bảo tồn.
Gà có ngoại hình to cao chân, rất đặc trưng: con trống nặng trên 4kg, cá 3 biệt có cá thể nặng gần 5kg, lông màu vàng nhạt và cánh gián, mào đơn, con mái chủ yếu màu vàng rơm, nặng trên 3kg. Giới thiệu về gà Liên Minh 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ DI TRUYỀN CÁC TÍNH TRẠNG 2. Bản chất di truyền của tính trạng chất lượng H.Biichel cho biết các tính trạng thuộc về đặc điểm sinh vật học của gia cầm như: màu sắc lông, hình dáng cơ thể, màu da chân, màu mắt, kiểu mào, chất lượng thịt,… Thuộc nhóm tính trạng chất lượng.
Khác với tính trạng về số lượng thì tính trạng chất lượng được quy định bởi ít gen và có hiệu quả lớn, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Sự di truyền này được tuân theo quy định của Mendel – quy luật đồng tính, định luật phân ly và định luật di truyền độc lập của các tính trạng.2 Bản chất di truyền của tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng có thể cân, đo , đong, đếm. Giá trị của chúng được biểu hiện liên tục: tốc độ sinh trưởng, tuổi đẻ lứa đầu, sản lượng trứng/năm, tỷ lệ ấp nở, độ dày của vỏ trứng,… Các tính trạng này chịu ảnh hưởng của nhiều gen tại các locus khác nhau và bị ảnh hưởng lớn của môi trường. Theo Trần Đình Miên (1995) phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi là các tính trạng số lượng.
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính 4 trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, tốc độ tăng trưởng,… tại các thời điểm đo. Quy định quan hệ này biểu hiện như sau: P=G+E Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen nhỏ quy định. Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt thì rất nhỏ nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng tới tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (poly gene).
Giá trị kiểu gen : G = A + D + I A (Additive value) : giá trị cộng gộp D (Dominance value) : ảnh hưởng trội I (Interaction value) : ảnh hưởng tương tác Trong đó giá trị cộng gộp hay giá trị giống A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Ảnh hưởng trội D và tương tác I cũng có vai trò quan trọng, các tính trạng số lượng này cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường E. Như vậy khi kiểu hình của 1 cá thể được cấu tạo từ 2 sai lệch trở lên thì giá trị của nó được biểu hiện như sau: P = A + D + I + Eg + Es Trong đó: A (Additive value) là giá trị cộng gộp D (Dominance value) là ảnh hưởng trội I (Interaction value) là ảnh hưởng tương tác Eg là môi trường chung Es là môi trường riêng Qua phân tích ở trên cho thấy năng suất của các giống vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và ngoại cảnh môi trường sống. Thêm vào đó sự tác động giữa môi trường và ngoại cảnh có ảnh hưởng khác nhau, mỗi loài động vật có một kiểu gen nhất định có thể biểu thị tốt nhất ở 5 môi trường này nhưng ngược lại ở môi trường kia.
Do đó cần phải tạo môi trường thích hợp để kiểu gen có thể biểu hiện hết tính di truyền của nó. Chăm sóc nuôi dưỡng tạo môi trường thích hợp để khai thác tốt tiềm năng di truyền của phẩm chất giống đó. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC TÍNH TRẠNG CỦA GIA CẦM VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 2. Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước.
Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất, chủ yếu là protein. Tốc độ tích luỹ của các chất và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Trong công tác giống gia cầm nói chung và chăn nuôi gà thịt nói riêng, việc đánh giá, xác định sinh trưởng của từng các thể, từng giống, dòng là cần thiết, vì đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cho thịt của dòng, giống đó. Trong thực tế, đánh giá khả năng sinh trưởng người ta thường đánh giá các chỉ tiêu chính như kích thước cơ thể, khối lượng cơ thể (sinh trưởng tích lũy), tốc độ sinh trưởng (sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối) Ở gà căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể, người ta có thể phân biệt các giai đoạn phát triển như sau: Giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ Giai đoạn phát triển của phôi trong trứng sau khi đẻ Giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục Giai đoạn sinh sản - Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm hình thái, sinh lý đặc trưng.