ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới hiện nay, nghành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đang phát triển và giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Theo Bộ NN&PTNT, năm 2021 mặc dù đối phó với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của covid-19 diễn biến phức tạp, dịch bệnh gia súc tiềm ẩn nguy cơ bùng phát nhưng sản lượng chăn nuôi vẫn tăng. Tổng số gia cầm của cả nước ước tính thời điểm cuối 12/2021 tăng khoảng 0,2% so với cùng thời điểm 2020, sản lượng gia cầm hơi xuất chuồng cả năm đạt 1940,9 nghìn tấn tăng 3,2% so với năm 2020, và tăng 25,9% so với kế hoạch, sản lượng trứng gia cầm cả nước ước đạt 17,5 tỷ quả tăng 5,1% so với cùng kì 2020. Chăn nuôi gia cầm của Việt Nam còn nhiều khó khăn tình hình dịch bệnh, giá cả không ổn định, quy mô nhỏ lẻ.
Nắm bắt được tình hình chăn nuôi, nhu cầu thị trường, trang trại gà kết hợp với công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam đẩy mạnh phát triển mảng chăn nuôi gia cầm theo hướng chăn nuôi công nghiệp. Hệ thống trang trại được tạo ra từ sự kết hợp chọn tối ưu giữa giống gà Isa Brown với chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, nguồn thức ăn được kiểm soát nghiêm ngặt về hàm lượng dinh dưỡng và vệ sinh thú y. Những đàn gà nuôi tại trại Pullet Hạ Hòa Phú Thọ của công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam được chăm sóc, nuôi dưỡng và hệ thống chuồng kín ngăn ngừa mọi dịch bệnh, hệ thống lồng nuôi, thiết bị điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, lưu lượng gió và hệ thống nước sạch để có được những sản phẩm trứng giàu dinh dưỡng giư được độ tươi ngon và tốt cho sức khỏe của con người. Gà Isa Brown là giống gà chuyên trứng có nguồn gốc tại Pháp.
Giống gà này là giống lai, hình thành do việc lai tạo giữa giống gà Rohde đỏ và gà Rohde 1 trắng của công ty Hubbard- ISA. Đây là giống gà hướng trứng được nuôi phổ biến trên phổ biến trên thế giới, ở Việt Nam chúng được xếp vào nhóm gà siêu trứng cho năng suất cao. Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin về khả năng sản suất của gióng gà ISA Brown nuôi tại Việt Nam chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá năng xuất sinh sản của đàn gà ISA Brown nuôi tại xã Độc Lập huyện Kì Sơn, Hòa Bình’’. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1.
Mục đích Đánh giá được khả năng sản suất của đàn gà ISA Brown nuôi tại xã Độc lập huyện Kì Sơn, Hòa Bình. Yêu cầu Thực hiện nghiêm túc theo quy trình chăn nuôi của trang trại. Theo dõi và ghi chép đầy đủ số liệu liên quan về khả năng sinh sản của đàn gà ISA Brown nuôi tại trại gà số 1 nuôi ở xã Độc Lập huyện Kì Sơn, Hòa Bình. Số liệu khách quan, khoa học và kế thừa.
2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm về sinh sản Sinh sản là một quá trình phức tạp ở các loài động vật, nó phụ thuộc vào chức năng chính xác của quá trình sinh hóa với sự tham gia của nhiều cơ quan trong cơ thể. Hệ sinh sản là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong chăn nuôi động vật.
Ở gà đẻ thông thường, thời gian đẻ của gà đẻ từ hơn 6 tháng đến 7 tháng. Lúc này gà khoảng 190 đến 200 ngày tuổi. Khi đã phát triển đầy đủ các cơ quan sinh sản và cơ quan trong cơ thể, nó bắt đầu đẻ trứng. Tủy từng con gà mà thời gian gà mái đẻ trứng có thể sớm hay muộn.
Quá trình hình thành trứng của gia cầm Quá trình sinh sản của gia cầm mái thông qua việc đẻ trứng. Qúa trình phát triển trứng trải qua ba thời kì: tăng sinh, sinh trưởng và chín. - Thời kì tăng sinh: Trước khi bắt đầu đẻ trứng trong buồng trứng đếm được 3500 - 4000 tế bào trứng. Trong tế bào trứng có nhân to và thể nhiễm sắc.
Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào. - Thời kì sinh trưởng: tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc bệt là lòng đỏ, được tích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 -14 ngày trước khi rụng trứng. Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào trứng là do filiculin được chế tiết ở buồng trứng khi gà mái thành thục sinh dục. Vào cuối thời kì phát triển của tế bào trứng, giữa lòng đỏ chứa đầy limpho, đường kính lòng đỏ khoảng 35 - 40 mm.
Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố trong máu, vào thức ăn, tùy theo màu lòng đỏ đẻ xác định hàm lượng vitamin A của trứng được sử dụng để đánh giá chất lượng trứng. 3 -Trong thời kì chín: Trứng chín và bắt đầu diễn ra sự rụng trứng. Quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng trứng, ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau khi gà đẻ trứng 30 phút. Ở gà đẻ sau 16h trứng thường rụng vào buổi sáng hôm sau.
Quá trình hình thành và rụng trứng là quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp dưới sự điều khiển của thần kinh thể dịch. Sau khi dụng trứng, tế bào trứng sẽ rơi vào ống dẫn trứng, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành vỏ trứng. Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và tình trạng của hệ sinh dục. Khi bắt đầu thành thục sinh dục, ống dẫn trứng là một ống trơn, thẳng có đường kính như nhau trên toàn bộ ống.
Ở gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng có 5 phần: phễu, phần tiết lòng trắng trứng, phần eo của ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo. Phễu: phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng, dài 4 - 7 cm, đướng kính 8 - 9 cm, nằm dướng buồng trứng. Bề mặt niêm mặc phễu xếp nếp không có tuyến. Chuyển động nhu mô của phễu có khả năng bắt lấy tế bào trứng khi nó rụng xuống từ buồng trứng.
Lòng đỏ nằm ở trong phễu khoảng 15 - 29 phút. Lớp lòng trắng đầu tiên được bao bọc xung quanh tế bào trứng tiết ra ở cổ phễu. Lòng trắng này đặc, quấn ngay lòng đỏ. Khi đi qua phần đầu của ống dẫn trứng, lòng đỏ lăn chậm trong lòng cổ phễu, làm cho lớp lòng trắng đặc xung quah mình nó vặn xoắn lại, tạo ra 2 cuộn dây chằng hai đầu lòng đỏ, có tác dụng giữ cho lòng đỏ luôn nằm ở tâm trứng.
Trên các nếp nhăn của phễu thường có rất nhiều tinh trùng, chúng sống nhờ một phần dinh dưỡng trong dịch ở các nếp này và thụ tinh ngay khi lòng đỏ vừa rụng xuống. Phần tạo lòng trắng: là phần dài nhất của ống dẫn trứng, khi gà đẻ mạnh phần này dài đến 30-50 cm. Niêm mạc của ống có nhiều nếp xếp dọc. Trong đó, có nhiều tuyến hình ống, cấu tạo giống như tuyến ở cổ phễu.
Chất tiết của tuyến 4 là lòng trắng bao quanh lòng đỏ, chúng gồm nhiều lớp: phía trong đặc phía ngoài loãng. Thời gian trứng ở trong phần tạo lòng trắng không quá 3 giờ. Phần eo là phần hẹp lại cua rống dẫn trứng dài 8 cm. Niêm mạc có những nếp xếp nhỏ.
Ở đó lòng trắng loãng được bổ sung thêm, đồng thời các tuyến ở eo tiết ra các sợi chắc, đan vào nhau đẻ hình thành 2 lớp màng chắc dính sát vào nhau, chỉ tách nhau ở phần đầu lớn của trứng, đó là màng dưới của vỏ trứng. Hình dạng của trứng quyết định ở đây. Trứng nằm trong đoạn eo khoảng 1 giờ. Tử cung tiếp theo phần eo phần này phình to, chiều dài bằng 10% ống dẫn trứng.
Tại đây lòng trắng tiếp tục được sinh ra và thấm qua màng vỏ trứng vào trứng. Ngay khi trứng vào đến phần eo thì đầu trước của nó hình thành vỏ lụa (màng dưới vỏ trứng) sau đỏ vỏ cứng được hình thành dần dần (vỏ đá vôi). Màu sắc vỏ trứng hình thành ở đây. Thời gian trứng lưu lại ở tử cung là 20 giờ.
Âm đạo là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng có chức năng sản sinh ra lớp màng mỡ bao bọc vỏ trứng. Âm đạo dài 7-12cm. Lớp màng này giúp gia cầm dễ đẻ, ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn vào vỏ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước cua vỏ trứng và giúp phân biệt được trứng mới và trứng cũ. Sự hình thành trứng là một quá trình phức tạp có sự thâm gia của hormone.
Tuy lòng đỏ được hình thành ở buồng trứng nhưng hàn lượng protein lại được tổng hợp chủ yếu ở gan thận. Mỡ của trứng được tổng hợp có nguồn gốc trực tiếp từ lipit của khẩu phần và giải phóng mỡ ở các kho dự trữ mỡ trong cở thể. Protein và mỡ được chuyển qua máu đến buồng trứng tham gia hình thành trứng. Tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục (tuổi đẻ quả trứng đầu) là một yếu tố cấu thành năng suất.
Tuổi đẻ quả trứng đầu được tính bằng số ngày tuổi kể từ khi gà nở đến lúc đẻ quả trứng đầu tiên (với gà mái) và khả năng thụ tinh với gà trống. Trong một đàn gà mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể tronng đàn, 5 tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc và chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Theo tiêu chuẩn của công ty Japfa Comfeed Việt Nam, tuổi đẻ quả trứng đầu của gà ISA BROWN là 126 -133 ngày; đạt tỷ lệ đẻ đạt 50% lúc 141-148. Tỷ lệ đẻ đỉnh cao ở 28 đến 29 tuần tuổi đạt 94,5%. Khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà mái.
Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từng thời điểm đẻ 5% và đỉnh cao. Sản lượng trứng Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài. Theo Bandsch & Bilchel (1978), sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên. Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định, cường độ này được xác định trong khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày, 100 ngày trong giai đoạn đẻ; đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ cao nhất vào tháng đẻ thứ hai và ba, sau đó thì giảm dần; khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp (ấp bóng), bản năng khác nhau ở các giống gà khác nhau.