Chương 1: trình bày bối cảnh vấn đề chính sách trật tự lòng đường, vỉa hè, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết, kết quả những nghiên cứu liên quan. Chương 3: trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chương 4: trình bày kết quả nghiên cứu, khảo sát từ thực tế, phân tích, thảo luận đánh giá kết quả nhằm phát hiện ra nguyên nhân tiềm ẩn của vấn đề nghiên cứu và giải đáp các câu hỏi nghiên cứu. 123doc 15 Chương 5: trình bày ý kiến kết luận và các khuyến nghị những giải pháp khả thi để giải quyết chính sách.
123doc 16 CHƯ NG 2 TỔNG QUAN C SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Sinh kế (livelihood): là khái niệm phổ biến được nghiên cứu và sử dụng theo nhiều cách và những cấp độ khác nhau. Theo Robert Champers: “sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống” (Chambers, Robert (1983), Rural development: Putting the last first, Longman Scientific & Technical, co-published in the United States with John Wiley & Sons, Inc. Trong khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) thì “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” (DFID’s Sustainable Livelihoods Guidance Sheets: 4).
Trong Từ điển Tiếng Việt giải thích sinh kế như sau: “sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống”. Trên thực tế khái niệm “sinh kế”, hay “hoạt động mưu sinh”, “phương cách kiếm sống” được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều trong các nghiên cứu của mình gắn với chuyên ngành dân tộc học, kinh tế học hay nhân học kinh tế. Trong nghiên cứu này thuật ngữ “sinh kế” được sử dụng với ý nghĩa là phương cách kiếm sống của các hộ nghèo, hộ cận nghèo quận 1. Sinh kế bền vững Sinh kế chỉ bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để sản xuất và duy trì phương tiện sống của họ.
Sinh kế bền vững là những sinh kế có thể ứng phó và hồi phục ngay sau những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường khả năng, tài sản và quyền, trong khi không tổn hại nền tảng tài nguyên thiên nhiên (Chambers & Conway, 1992). Sinh kế được xem là bền vững khi nó có khả năng đương đầu với những tổn thương mà không cần sự hỗ trợ nhất thời từ bên ngoài, đồng thời không gây tác 123doc 17 động bất lợi đến sinh kế của người khác và không làm giảm sút nguồn tài nguyên có thể khai thác của các thế hệ tiếp theo (DFID, 2001). Khung sinh kế bền vững Khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development – DFID) được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi trong phân tích về sinh kế và đói nghèo. Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế, đó là: + Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; + Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; + Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; + Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; + Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ (Ashley and Carney, 1999, tr.
Khung sinh kế bền vững lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển. Sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại vốn, hay tài sản vốn.1: Khung sinh kế bền vững Ghi chú: H: Nguồn vốn con người S: Nguồn vốn xã hội N: Nguồn vốn tự nhiên P: Nguồn vốn vật chất F: Nguồn vốn tài chính TÀI SẢN SINH KẾ H CÁC CHIẾN Ảnh Cấu trúc và quy LƯỢC SINH Kết quả sinh kết Bối cảnh dễ N hưởng và trình tổ chức KẾ S bị tổn các nguồn thương tiếp cận P F Nguồn: DFID,sustainable livelihoods guidance sheets, 1999 123doc 18 2. Tài sản sinh kế: bao gồm năm loại là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Sự kết hợp của các loại tài sản sinh kế sẽ cho ra ngũ giác có hình dạng, kích thước khác nhau tùy từng hộ gia đình (DFID, 2001).
-Nguồn vốn con người: gồm các năng lực cụ thể (kiến thức, kĩ năng) và năng lực tiềm tàng để giúp họ tạo ra phúc lợi cho bản thân và cho xã hội (OECD, 2001, tr. Khảo sát ở cấp độ hộ gia đình, vốn nhân lực được cụ thể hóa gồm năm yếu tố: số nhân khẩu trong hộ, số lao động tạo thu nhập cho gia đình, trình độ giáo dục, kiến thức và kĩ năng, sức khỏe của các thành viên hộ (FAO, 2005, tr.3), nó ảnh hưởng đến cách mà hộ gia đình thực hiện các chiến lược sinh kế để đạt kết quả sinh kế. - Nguồn vốn tự nhiên: bao gồm nguồn nước, đất đai và các nguồn tài nguyên sinh học được sử dụng bởi con người để tạo ra phương tiện cho sự tồn tại (Ellis, 2000), gồm cả tài nguyên có thể tái sinh và không thể tái sinh, là những yếu tố tài nguyên thiên nhiên con người có thể khai thác, sử dụng để trực tiếp hay gián tiếp tạo ra giá trị (Natural Capital -14- Committee, 2013, tr. - Nguồn vốn tài chính được hiểu đơn giản là tiền và các khoản tương đương tiền hay dễ dàng quy đổi thành tiền để phục vụ cho việc đạt được các mục tiêu sinh kế.
Vốn tài chính thể hiện dưới dạng tiền mặt, tiền tiết kiệm, các khoản tín dụng, bảo hiểm, trang sức, trợ cấp… - Nguồn vốn vật chất bao gồm tài sản công cộng (đường sá, phương tiện giao thông công cộng, nguồn nước sạch, hệ thống điện, hệ thống truyền thông tin, trường học, cơ sở y tế) và tài sản sở hữu tư nhân (phương tiện phục vụ sinh hoạt và sản xuất của cá nhân). - Nguồn vốn xã hội: là mối quan hệ kết nối con người trong xã hội để phối hợp hoạt động có hiệu quả dựa trên cơ sở của niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau và các giá trị chia sẻ cho nhau (Don Cohen & Laurence Prusak, 2001, tr. Người nghèo thường tìm đến sự hỗ trợ từ vốn xã hội vì sự an toàn phi chính thức mà vốn xã hội mang lại. Đó chính là các kết nối trong xã hội theo chiều dọc hoặc chiều ngang, 123doc 19 cùng với sự thỏa thuận về việc tuân thủ nguyên tắc đã giảm thiểu chi phí đồng thời nâng cao hiệu quả trong các hoạt động giao dịch của nhóm hộ (DFID, 2001).
Bối cảnh tổn thương: là những tình huống bất lợi xảy ra mà con người không đủ khả năng đối phó (GLOPP, 2008, tr. DFID phân chia tổn thương làm ba loại: - Các cú sốc - Các xu hướng - Tính mùa vụ 2. Hoạt động sinh kế Là toàn bộ các hoạt động nhằm đạt mục đích duy trì và phát triển các nguồn tài sản sinh kế. Chủ yếu là các hoạt động tạo ra thu nhập trên các lĩnh vực: sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, xây dựng, thương mại, dịch vụ… 2.
Chiến lược sinh kế Chiến lược sinh kế là những quyết định của con người trong việc kết hợp những lựa chọn và sử dụng các nguồn vốn, tài sản sinh kế để tạo ra thu nhập nâng cao đời sống (Ellis, 2000). Nó bao gồm các hoạt động, sự kết hợp các hoạt động này cùng các lựa chọn mà các chủ thể phải tiến hành để đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Khi môi trường bên ngoài thay đổi hay có các cú sốc thì người dân phải lựa chọn các chiến lược sinh kế phù hợp với bản thân mình để thích nghi với hoàn cảnh mới theo ba dạng: phát triển hoạt động sản xuất, đa dạng hoạt động sinh kế và thay đổi nơi sinh sống để có kết quả sinh kế tốt nhất. Kết quả sinh kế Là kết quả mà thông qua các chiến lược sinh kế con người đạt được bao gồm nhiều chỉ số khác nhau như việc làm và thu nhập, y tế, kiến thức và xóa đói giảm nghèo.
Năm yếu tố quan trọng của sinh kế bền vững cần được đưa vào tiêu chí để đánh giá các chiến lược sinh kế và kết quả. Lòng đường, vỉa hè: Theo Luật Giao thông đường bộ (Luật số 26/2001/QH10) có quy định đường phố là đường bộ trong đô thị gồm lòng đường và vỉa hè. 123doc 20 Hiện nay, chưa có một định nghĩa nào chính thức về vỉa hè, tuy nhiên tại Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND, ngày 23 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy định về quản lý và sử dụng lòng đường, vỉa hè trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có giải thích khái niệm lòng đường, vỉa hè như sau: - Lòng đường là bộ phận của đường đô thị, được giới hạn bởi phía trong hai bên bó vỉa, có thể bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị dọc tuyến khi cần thiết. Lòng đường và vỉa hè là hai yếu tố cơ bản nhất của một con đường, trong đó lòng đường dành cho các phương tiện tham gia giao thông và vỉa hè dành riêng cho người đi bộ.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu vỉa hè là một thành phần bên trong không gian công cộng của đô thị, là khoảng không gian công cộng dành cho người đi bộ và tô điểm vẻ đẹp đô thị. Vỉa hè có 4 chức năng, bao gồm: - Làm lối đi riêng cho người đi bộ (tối thiểu là 1,5 m); - Chứa đựng kết cấu hạ tầng, bố trí hệ thống cấp điện, đường cáp quang, đường ống cấp nước, cống thoát nước, đặt cột điện, cột chiếu sáng công cộng, các biển quảng cáo và trồng cây xanh; - Làm lối ra vào các công trình ở dọc phố và phải bảo đảm bố trí được vào các điểm tiếp cận các công trình giao thông khác như cầu bộ hành và hầm chui dành cho người đi bộ. - Chức năng không gian công cộng đô thị, là nơi để mọi người có thể sinh hoạt không làm ảnh hưởng trật tự, an toàn giao thông.