Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đánh giá Đánh giá là một hoạt động định kỳ hoặc đột xuất nhằm phân tích một cách có hệ thống và khách quan, làm rõ sự tương quan giữa kết quả đạt được trên thực tế so với mục tiêu đã đề ra. Một đánh giá cần cung cấp các thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép ứng dụng các bài học kinh nghiệm vào quy trình sản xuất.
Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích lại toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu đạt ra ban đầu [7]. Sản xuất Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất tập trung vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hoá việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm.
Sản xuất là việc sử dụng các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau gọi là các đầu vào hoặc các yếu tố sản xuất, để tạo ra hàng hóa dịch vụ mới, gọi là đầu ra (hay sản phẩm). Nói ngắn gọn thì sản xuất là việc chuyển hóa các đầu vào - yếu tố sản xuất thành đầu ra là hàng hóa và dịch vụ. Sản phẩm có thể là hàng hóa cuối cùng hoặc sản phẩm trung gian [3]. Thị trường Trong nền kinh tế hiện nay không thể coi thị trường chỉ là những chợ, cửa hàng, siêu thị mặc dù những nơi đó diễn ra quá trình mua và bán.
Cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung - cầu của hàng hóa. * Một số quan điểm về thị trường - Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa và dịch vụ. n 5 - Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. - Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dich vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh.
- Thị trường là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế [10]. - Thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình thành trong hoạt động mua và bán [3]. Thị trường theo nghĩa hẹp là tập hợp các thoả thuận, thông qua đó người bán và người mua có thể tiếp cận nhau để mua bán hàng hoá và dịch vụ. Thị trường theo nghĩa rộng là sự biểu hiện quá trình mà nhờ đó các quyết định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hoá khác nhau, các quyết định của các hãng về việc sản xuất cái gì và như thế nào, các quyết định của công nhân về việc làm gì cho ai được điều hoà bởi sự điều chỉnh giá.
Thị trường là một khuôn khổ vô hình, trong đó người này tiếp xúc với người kia để trao đổi một thứ gì đó khan hiếm và thông qua đó họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi [14]. Định nghĩa nào thì cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là: thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời điểm và một không gian nhất định. * Vai trò của thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp Thị trường có vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa nông nghiệp. Đối với thương mại, dịch vụ nông nghiệp, thị trường đảm bảo quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, quyết định sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp.
Thị trường là công cụ điều tiết của nhà nước đến hoạt động thương mại và toàn nền kinh tế. Thị trường dự trữ hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội đảm bảo việc điều hòa cung cầu. Thị trường là một yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài, môi trường kinh tế xã hội. Thị trường là cầu nối giữa doanh nghiệp thương mại với bên ngoài, đó là khách hàng, các doanh nghiệp khác và ngành khác,… Thị trường phá vỡ ranh giới của nền sản n 6 xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, phát triển các loại dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu dùng [4].
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, thị trường nông sản phẩm có vai trò quan trọng là đối tượng, là căn cứ quan trọng của việc xác định phương hướng sản xuất kinh doanh, là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất. Tiêu thụ và kênh tiêu thụ * Tiêu thụ Theo nghĩa hẹp, quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sự thanh toán giữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá. Theo nghĩa rộng thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng,… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, quá trình chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền.
Sản phẩm được coi là tiêu thụ khi được khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng. Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất để bán và thu lợi nhuận [20]. * Kênh tiêu thụ Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh tiêu thụ.
Kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Một số người lại mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện mục đích thương mại. Các định nghĩa trên xuất phát từ quan điểm khác nhau của người nghiên cứu. Kênh tiêu thụ thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng.
Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh n 7 tiêu thụ là hệ thống mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán. Các kênh tiêu thụ tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường. Kênh tiêu thụ hoặc kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất. Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau [4]. Tùy vào điều kiện cụ thể và các sản phẩm mà mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất sẽ có sự lựa chọn hình thức kênh tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp, có thể chọn kênh tiêu thụ trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc kênh tiêu thụ hỗn hợp,… 1. Khái niệm cơ bản và vai trò của cây rau.
* Khái niệm về rau Rau là cây hoặc phần có thể ăn được và thường là mọng nước, ngon và bổ được sử dụng như là món ăn chính hoặc đồ phụ gia để nấu hoặc ăn sống. Rau rất đa dạng và phong phú, do vậy khái niệm về “rau” chỉ có thể dựa trên công dụng của nó. Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Vai trò của cây rau đã được khẳng định qua câu tục ngữ “cơm không rau như đau không thuốc”.
Giá trị của rau được thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống. * Vai trò quan trọng của rau tươi trong dinh dưỡng Các loại rau tươi của nước ta rất phong phú. Nhìn chung có thể chia rau tươi thành nhiều nhóm: Nhóm rau xanh như rau cải, rau muống, xà lách, rau cần,.; nhóm rễ củ như cà rốt, củ cải, su hào, củ đậu,.; nhóm cho quả như cà chua, cà pháo, dưa chuột,.; nhóm hành gồm các loại hành, tỏi,. n 8 Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng.
Tuy lượng protein và lipit trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza. Rau còn là nguồn chất sắt quan trọng. Sắt trong rau được cơ thể hấp thụ tốt hơn sắt ở các hợp chất vô cơ.
Vậy rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng, bữa ăn hàng ngày của chúng ta và không thể thiếu được. Điều quan trọng là phải đảm bảo rau sạch, không có vi khuẩn gây bệnh và các hoá chất độc nguy hiểm. Giá trị cây rau trong đời sống kinh tế - xã hội 1. Giá trị dinh dưỡng của rau - Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể.
Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm.