Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm thân tàu biển và Công tác đánh giá rủi ro trong bảo hiểm thân tàu. Mục đích của chương này là tìm hiểu chung nhất về nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển và những đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm thân tàu (bao gồm: định nghĩa về bảo hiểm thân tàu, đối tượng và phạm vi bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm thân tàu). Phần thứ hai của chương đi sâu nghiên cứu về rủi ro trong bảo hiểm hàng hải; Mục tiêu cũng như lợi ích của công tác đánh giá, nhận dạng rủi ro đối với nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu. Chương 2: Thực trạng triển khai công tác đánh giá rủi ro trong bảo hiểm thân tàu biển tại Tổng công ty cổ phan bảo hiểm Petrolimex (PJICO) Chương này giúp tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, thực tế triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển và đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quản trị rủi ro của Tổng công ty bảo hiểm PJICO.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao công tác đánh giá rủi ro trong bảo hiểm thân tàu tại Tổng công ty cổ phan bảo hiểm Petrolimex. Chương này đưa ra những hạn chế còn mắc phải trong công tác đánh giá rủi ro của PJICO. Từ đó, đề suất một số biện pháp để nâng cao công tác đánh giá rủi ro cho Tổng công ty cỗ phần bảo hiểm Petrolimex. SV: Nguyễn Thị Linh Chi MSV: CQ520365 Chuyên dé tốt nghiệp 4 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Hải Đường CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE BAO HIEM THAN TAU BIEN VA CONG TAC DANH GIA RUI RO TRONG BAO HIEM THAN TAU 1.1 Ly luận chung về bảo hiểm thân tàu biển 1.1 Giới thiệu về bảo hiểm thân tàu biển 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm thân tàu biển Bảo hiểm thân tàu biển là một trong những nghiệp vụ của loại hình bảo hiểm hàng hải. Sự ra đời và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của ngành vận tải biển. Bảo hiểm hàng hải đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, ngay khi ngoại thương ra đời và phát triển thì bảo hiểm hàng hải đã ra đời. Tuy nhiên, công việc này thường gặp phải nhiều rủi ro, tổn thất nặng nề và có thể dẫn đến phá sản, do vậy để giúp đỡ lẫn nhau các thương nhân đã đưa ra hàng loạt các biên pháp đề phòng hạn chế tồn that: di vay vốn để buôn bán - cho vay mạo hiểm (nếu hành trình gap rủi ro xảy ra tốn thất toàn bộ họ sẽ được miễn không phải trả cả gốc lẫn lãi, nếu hành trình an toàn thì họ phải trả cả vốn lẫn lãi với lãi suất rất nặng); chia hàng hóa của mình cho nhiều chuyến hành trình; hoặc một nhóm thương nhân đầu tư vào 1 đội tàu cùng nhau chia lợi nhuận, tồn thất nếu có; hoặc các thương nhân đề nghị trả một số tiền mặt cho người khác nếu người này đồng ý sẽ bồi thường cho chủ hàng thuộc con tàu khi tàu không hoàn thành được chuyến hành trình cụ thể nào đó, mà nhà bảo hiểm sẽ tạo lập một quỹ chung mà họ đã cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi tổn thất xảy ra (hình thức bảo hiểm ra đời).
Bảo hiểm hàng hải được thực hiện lần đầu tiên bởi những thương nhân của thành phố Lombady ở miền bắc nước Y vào khoảng năm 1250 sau Công Nguyên. Nhiều người trong số các thương nhân này đã di cư sang nước Anh và áp dụng phương thức bảo hiểm hàng hải của quê hương họ ở thành phố London. Vào thế kỷ XIV, 6 Floren, Genoa Ý đã xuất hién hop đồng bảo hiểm đầu tiên. Và từ đó một số SV: Nguyễn Thi Linh Chi MSV: CQ520365 Chuyên dé tốt nghiệp 5 GVHD: TS.
Nguyễn Thi Hải Đường các văn ban pháp luật trong ngành BH ra đời: Chiếu dụ Barcelona năm 1435, sắc lệnh Philippe de Bourgogne năm 1458, sắc lệnh Brugos năm 1537, Fiville năm 1552, Amsterdam năm 1558, ngoài ra có sắc lệnh của Phần Lan liên quan đến hợp đồng BH hàng hóa. Sau đó ở Châu Âu xuất hiện luật lệ bảo hiểm hàng hải, năm 1988 Bộ luật bảo hiểm thân tàu đầu tiên được ra sời ở London, viết tắt là [TC (Institute Time Clause). Đặc biệt, vào khoảng thế ky XVII, đã thành lập ra Lloyd’s Coffee House, đây là nơi các thương nhân, chủ ngân hang, người chuyên chở, người bảo hiểm. đến để trao đổi thông tin về các con tàu viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về sự an toàn và tình hình tai nạn của các con tàu.
Hiện nay là hiệp hội Lloyd’s- một hiệp hội chuyên về bảo hiểm, là một trong sỐ tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, sự hình thành và phát triển của Lloyd’s có ảnh hưởng rat lớn đến ngành bảo hiểm thế giới đặc biệt là bảo hiểm hàng hải.2 Sự cần thiết của bảo hiểm thân tàu biển Ngày nay, trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, vận tải biển được đánh giá là đóng vai trò to lớn và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Với những điều kiện thuận lợi như: Có thể chở được những hàng hoá siêu trường, siêu trọng như: container, hàng rời, hàng bao với khối lượng lớn. Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên cùng một tuyến có thé tổ chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều; Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụng điều kiện tự nhiên của đường biển. do đó không phải đầu tư nhiều về vốn, nguyên nhiên vật liệu, nhân lực cho tu bổ sửa chữa nâng cấp công nghệ.
Đây là nguyên nhân dẫn đến giá của vận chuyển đường biển thấp hon so với các phương tiện khác. Nhờ vậy mà ngành vận tải biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tế quốc tế, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước, tang thu ngoại tệ. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, ngành vận tải biển cũng hàm chứa nhiều bat trắc, rủi ro khó lường trước. Vận chuyên bằng đường biển phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu.
Có thể nói những rủi ro thiên tai, thảm hoa bat ngờ như: sóng than, lốc xoáy, bão. có thé xảy ra bất cứ lúc nào ảnh hưởng đến cả phương tiện lẫn hang hoá gây tồn thất lớn cho nền kinh tế và SV: Nguyễn Thi Linh Chi MSV: CO520365 Chuyên dé tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hải Đường xã hội. Những sai sót về kỹ thuật dẫn tới những trục trặc lớn cho chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều khiến từ đất liền.
từ đó gây ra những rủi ro đối với tàu thuỷ như cháy nổ, va chạm với phương tiện trên biển khác, gây ra 6 nhiễm dau, trách nhiệm khác có thé liên quan đến việc chỉ trả chỉ phí của chủ tàu, hay người sử dụng tàu. Hành trình trên biển thường kéo dài, có thể bị cướp biên, cướp bạo động gây ra thiệt hại to lớn cho chủ tàu. Tàu cũng có thể bị tốn hại do hành động của các thành viên trên tàu như: sự bất cân của thuyền trưởng, sỹ quan, thuỷ thủ hay hoa tiêu; hoặc manh động của thuyền trưởng, sỹ quan hay thuỷ thủ. Như vậy, Để giúp các chủ tàu ổn định khả năng tài chính khi không may rủi ro xảy ra với con tàu, từ đó khôi phục và tiếp tục công việc kinh doanh, hoạt động bảo hiểm thân tàu ra đời.
Năm 1988, Bộ Luật bảo hiểm thân tàu đầu tiên được ra đời ở London, viết tat là ITC (Institute Time Clause), đã trải qua 3 lần sửa đổi bổ sung: ITC 1970, ITC 1983 và ITC 1995. Từ đó đến nay, bảo hiểm thân tàu không ngừng lớn mạnh, thúc đây hoạt động kinh doanh của thương mại quốc tế và vận tải biến. Hạn chế rủi ro trong hàng hải có vai trò quan trọng và quyết định đối với việc thành công với một thương vụ của doanh nghiệp. Khi xảy ra rủi ro thì tổn thất thường rất lớn và không lường trước được.
Vì thế, công cụ hữu hiện nhất dé hạn chế và phòng ngừa rủi ro là Bảo hiểm. Khi doanh nghiệp vận tải biển chuyển giao rui ro cho các Nhà Bảo Hiểm, buộc công ty bảo hiểm đó phải có các công cụ để phòng tránh rủi ro và khi có rủi ro xảy ra thì tổn thất là nhỏ nhất. Kinh doanh bảo hiểm là ngành kinh doanh rủi ro, muốn thu được nhiều lợi nhuận thì công cụ hạn chế rủi ro phải tốt. Một khi doanh nghiệp vận tải xảy ra rủi ro thì thiệt hại rất lớn, việc bồi thường sẽ là gánh nặng tài chính cho công ty bảo hiểm, có thể dẫn tới vỡ quỹ không có khả năng chỉ trả.
Với ý nghĩa đó, các Nhà bảo hiểm luôn tìm cách để phòng chống rủi ro, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Một khi đã làm tốt việc này, lợi nhuận mà công ty bảo hiểm có được sẽ tăng lên, không những thế thị trường mở rộng, đạt được sự tín nhiệm từ phía khách hàng. Quản trị rủi ro tốt là yếu tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp bảo hiểm hàng hải. SV: Nguyễn Thị Linh Chi MSV: CQ520365 Chuyên dé tốt nghiệp 7 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Hải Đường 1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu biển 1.1 Khái niệm về tàu bién Tàu biển là thuật ngữ dùng để chỉ những phương tiện nổi trên mặt nước, có khả năng vận chuyển hàng hóa và con người hoặc sử dụng vào các mục đích khác trên biển hay những vùng nước mà tàu biển thường qua lại. Theo Luật Hàng hải Việt Nam năm 2005, tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dụng hoạt động trên biển, không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá. Có ba chỉ tiêu xác định độ lớn của một con tàu theo trọng tải, đó là: Dung tích đăng ký toàn phần GRT (Gross Register Tonnage), dung tích đăng ký tịnh NRT (Net Register Tonnage), và trọng tải của tàu (Deadweight Tonnage). Dung tích đăng ký toàn phần GRT gồm toàn bộ dung tích các khoang trống khép kín trên tàu như khoang chứa hàng, buồng máy, khoang chứa nước, khoang ăn ở, sinh hoạt của các sỹ quan, thủy thủ.
Chỉ tiêu GRT được dùng khi thống kê số lượng tàu hoặc xác định tiền lương của sỹ quan, thủy thủ. Dung tích đăng ký tịnh NRT chỉ bao gồm dung tích các khoang dùng để chuyên chở hàng hóa. Chỉ tiêu NRT thường dùng để tính cảng phí, phí hoa tiêu.