CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ TRONG XÂY DỰNG 1.1 Tình hình xây dựng hiện nay 1.1 Tình hình xây dựng trong nước Trong những năm qua, cùng với nền kinh tế cả nước trên đà phát triển mạnh và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành xây dựng nước ta đã có bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở; năng lực xây dựng công trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn về nhu cầu xây dựng, kể cả những công trình quy mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước. Công tác xây dựng cơ bản đã góp phần đáng kể trong việc thay đổi diện mạo của đất nước. Việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện đã và đang góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Đồng thời, việc đầu tư, xây dựng các dự án thủy điện, một số cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như điện, đường, trường, trạm y tế, nhà văn hóa… trong các khu vực tái định cư được nâng cấp, xây dựng mới khá đồng bộ và kiên cố, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa cho người dân địa phương.
Hệ thống đô thị Việt Nam đã và đang từng bước phát triển theo hướng bền vững, mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng – xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại, diện mạo đô thị ngày càng được nâng cao. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư tập trung bằng nhiều nguồn vốn, từng bước nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị. Hiện nay, trên cả nước đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhờ đó mà giao thông nông thôn đang có những bước phát triển nhảy vọt, các con đường về thôn, xóm được nâng cấp chất lượng, tạo điều kiện phát triển văn hóa, xã hội và thu hút đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
4 Về phía các doanh nghiệp xây dựng: đã chủ động hòa nhập với cơ chế thị trường, tiếp cận và đầu tư công nghệ xây dựng mới, trang bị nhiều thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, tư vấn, thi công xây dựng những công trình quy mô lớn, hiện đại. Về quản lý: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng và nhiều cơ chế, chính sách có liên quan đến hoạt động xây dựng được tập trung xây dựng để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, bảo đảm phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập khuôn khổ pháp lý và động lực thúc đẩy các hoạt động xây dựng, hình thành thị trường xây dựng với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng, phong phú, làm cho các hoạt động xây dựng đi dần vào kỷ cương, nền nếp, chất lượng xây dựng được đảm bảo. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, trong lĩnh vực này đang tồn tại một số vấn đề như tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng xây dựng cơ bản ở các địa phương, nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, mất an toàn lao động ở các công trường xây dựng… Hiện nay, tình trạng các công trình chậm tiến độ thi công diễn ra rất phổ biến, điển hình là dự án Đường sắt đô thị Cát Linh – Hải Phòng, các dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A đoạn qua Bình Định… Việc chậm tiến độ có rất nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó phải kể đến công tác lập và quản lý kế hoạch tiến độ thi công. Khi một bản kế hoạch tiến độ thi công được lập có xét đến các nhân tố rủi ro, ảnh hưởng thì sẽ có độ tin cậy cao, khả năng sát thực tế thi công sẽ giúp cho tiến độ thi công công trình đạt kế hoạch.2 Tình hình xây dựng trong khu vực nghiên cứu (thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội) Thị xã Sơn Tây nằm ở phía tây Thủ đô Hà Nội, là trung tâm kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của khu vực Tây bắc Thủ đô Hà Nội.
Trong những năm qua, thị xã đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, chủ động, tích cực khai thác mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng, nâng cấp tương đối đồng bộ về kết cấu hạ tầng cơ sở. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, gắn liền 5 với đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, các di tích lịch sử; bảo vệ môi trường và cảnh quan sinh thái. Phát triển đô thị theo hướng bền vững, hiện đại, văn minh, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, tình hình an ninh – quốc phòng được đảm bảo. Về xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị: thị xã được tập trung đầu tư, phát triển và quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã có những bước chuyển biến tích cực, nhiều công trình giao thông đã được xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng hiệu quả như: Đường tránh QL32, Cải tạo nâng cấp QL32, Cải tạo nâng cấp các tuyến đường nội thị.
mạng lưới đường giao thông nông thôn được quan tâm đầu tư tạo sự kết nối với giao thông đô thị của thị xã; các đường ngõ, xóm đã được nâng cấp đảm bảo tiêu chuẩn. Các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ đều được thảm bê tông nhựa với tổng chiều dài 53,84Km. Các tuyến đường phố nội thị kết nối mạng lưới đường của địa phương với mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ đạt tỷ lệ 100% (tổng chiều dài 15,559Km). Các tuyến đường ngõ, phố đã đạt tỷ lệ cứng hóa 70-80%.
Hệ thống đường xã góp phần tạo nên mạng lưới đường kết nối các thôn, xóm, các xã với thị xã và với mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ (với tổng chiều dài hơn 300 Km, đạt tỷ lệ cứng hóa 85%). Về xây dựng nông thôn mới: đến hết năm 2014, thị xã có 86% đường ngõ, xóm, 95% đường trục xã, liên xã, 13% đường trục chính nội đồng đạt chuẩn; cải tạo được 05 cây cầu dân sinh; thị xã đã đầu tư khoảng 30.658 triệu đồng để cải tạo nâng cấp 6 vai đập, 01 hồ trữ nước phục vụ sản xuất, xây mới và sửa chữa 8 trạm bơm, kiên cố hoá 16,64 km kênh tưới chính. Trong các năm tới, thị xã tranh thủ các nguồn lực của Trung ương, tiến hành xây dựng một số tuyến đường hạ tầng khung giao thông vận tải: Đường vành đai V; Cải tạo nâng cấp QL21A; tiếp tục chỉ đạo các đại diện Chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công thực hiện các dự án: Cải tạo phố Tùng Thiện, Thanh Vị; tuyến đường QL21 - Học viện Phòng không không quân…; tiếp tục thực hiện cứng hóa đường trục xã, liên xã, đường trục thôn, liên thôn, đường trục chính nội đồng, kiên cố hóa 6 hệ thống kênh mương; cải tạo, nâng cấp, xây mới rãnh thoát nước; xây dựng cầu nội đồng và cầu trên kênh; nâng cấp, cải tạo 10 vai, đập và hạng mục cống kèm theo… Tuy nhiên, trên địa bàn thị xã hiện nay đang còn tồn tại một số công trình chậm tiến độ như công trình Trung tâm văn hóa thị xã Sơn Tây (khởi công xây dựng từ năm 2012 nhưng đến nay mới đang thi công tầng hầm), công trình Cải tạo, nâng cấp tuyến phố Tùng Thiện (bắt đầu thi công từ năm 2013 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành). Một trong những nguyên nhân gây chậm tiến độ ở các công trình xây dựng trên địa bàn thị xã Sơn Tây là do việc bố trí vốn không đủ theo tiến độ thực hiện dự án.2 Kế hoạch tiến độ 1.1 Khái niệm, mục đích kế hoạch tiến độ Khi xây dựng một công trình phải thực hiện rất nhiều các quá trình xây lắp liên quan chặt chẽ với nhau trong một không gian và thời gian xác định với tài nguyên có giới hạn.
Vì vậy cần thiết phải lập kế hoạch tiến độ. Kế hoạch tiến độ là biểu kế hoạch sản xuất xây dựng trong đó quy định trình tự và thời gian thực hiện các công việc, các quá trình hoặc hạng mục công trình cùng những yêu cầu về các nguồn tài nguyên và thứ tự dùng chúng để thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch đề ra. Mục đích của lập tiến độ là thành lập một mô hình sản xuất, trong đó sắp xếp các công việc sao cho bảo đảm xây dựng công trình trong thời gian ngắn, giá thành hạ, chất lượng cao. Mục đích này có thể cụ thể như sau: - Kết thúc và đưa các hạng mục công trình từng phần cũng như tổng thể vào hoạt động đúng thời hạn định trước; - Sử dụng hợp lý nguồn lực, tài nguyên tại khu vực có dự án, bảo đảm đúng mục đích, đối tượng và trình tự đầu tư xây dựng; - Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng; - Bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn công trình, tính mạng, sức khỏe con người và tài sản; phòng, chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường; 7 - Bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát và tiêu cực khác trong hoạt động đầu tư xây dựng; - Sử dụng hợp lý máy móc thiết bị; - Giảm thiểu thời gian ứ đọng tài nguyên chưa sử dụng; - Lập kế hoạch sử dụng tối ưu về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ xây dựng; - Cung cấp kịp thời các giải pháp có hiệu quả để tiến hành thi công công trình.2 Các loại kế hoạch tiến độ thi công Kế hoạch tiến độ thi công thường có 3 loại: - Kế hoạch tổng tiến độ: là kế hoạch lập để chỉ đạo thi công cho một công trường hay một cụm công trình, có khối lượng lớn, thời gian thi công dài.
- Kế hoạch thi công công trình đơn vị hay kế hoạch tiến độ thi công hạng mục công trình: là kế hoạch lập ra để chỉ đạo thi công cho một công trình cụ thể. - Kế hoạch tiến độ thi công ngắn ngày (tháng, tuần): là kế hoạch lập ra để chỉ đạo thi công cho từng công việc, một nhóm công việc của công trình trong thời gian 10 ngày hoặc một tháng (còn gọi là kế hoạch tác nghiệp).