Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết 6 Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Nhận xét và đề xuất KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã nêu những hiểu biết và tầm quan trọng của thị trường chứng khoán, từ đó, nêu lên tính cấp thiết của đề tài và thể hiện hướng nghiên cứu thông qua việc đặt câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã xác định đối tượng và phương hướng nghiên cứu. Từ đó, làm nền tảng thực hiện nghiên cứu cho các chương tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các nghiên cứu trƣớc Nguyễn Thị Bích Tiền (2016), tác giải đã nghiên cứu về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu tại công ty kiểm toán Sao Việt.
Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán khoản mục doanh thu nói riêng. Dựa trên các quy định chung về: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam; Chế độ kế toán hiện hành Thông tư 200/2014/TT – BTC; Thông tư 48/2019/TT-BTC;,.nêu được nội dung, đặc điểm, nguyên tắc, phương pháp kế toán của kiểm toán BCTC nói chung, tài khoản phải thu khách hàng và dự phòng phải thu khó đòi nói riêng. Đề tài đã giới thiệu quy trình kiểm toán báo cáo tài chính công ty kiểm toán Sao Việt trải qua 5 giai đoạn: Từ giai đoạn đánh giá và chấp nhận khách hàng; Tiền hoạch; Lập kế hoạch; Thực hiện kế hoạch; Hoàn thiện kế hoạch và phát hành báo cáo. Và từ đó đưa ra những nhận xét về ưu điểm, nhược điểm của công tác kiểm toán khoản mục doanh thu và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện, khắc phục những hạn chế đã nêu ra nhằm đánh giá quy trình kiểm toán của công ty Sao Việt, từ đó, rút ra nhận xét ưu, nhược điểm của quy trình này.
Đông thời, tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp mới giúp mang lại hiệu quả cho chất lượng kiểm toán trong báo cáo kiểm toán. Trần Anh Thư (2014), tác giả đã thực hiên đề tài “ Đánh giá và hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu của cong ty TNHH Kiểm toán AFC Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ”. Tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng công tác kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán BCTC tại một đơn vị thực tế, đối chiếu với cơ sở lý luận, từ đó phân tích, nhận xét và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm toán khoản mục này. Tác giả đã thực hiện thu thập số liệu bằng các phương pháp nghiên cứu như: thu thập dữ liệu thông tin trong 3 năm gần nhất, phân tích và xử lý số liệu; quan sát, phỏng vấn; … và trực tiếp tham gia thực hiện kiểm toán.
Nhìn chung, các nghiên cứu của các luận văn trên đều được trình bày rõ ràng, mạch lạc cũng như tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của kiểm toán các khoản 8 mục liên quan hoạt động đầu tư trong kiểm toán BCTC của các công ty. Tuy nhiên các tác giả chỉ mới tập trung vào một số khoản mục của chu trình bán hàng và thu tiền tại một số loại hình doanh nghiệp riêng cũng như tập trung vào một hoặc hai giai đoạn của chu trình kiểm toán. Và các nghiên cứu này đều dùng phương pháp tiếp cận hệ thống chứ không sử dụng phương pháp kiểm toán theo rủi ro. Hơn hết, vẫn chưa có nghiên có nghiên cứu nào viết về quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu tài chính nói chung và vẫn chưa có nghiên cứu nào viết riêng đến kiểm toán khoản mục này tại các công ty chứng khoán có dữ liệu từ năm 2022 và cụ thể là quy trình kiểm toán khoản mục này tại công ty TNHH E&Y Việt Nam.
Nhờ vào việc tham khảo kết quả của những nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ tiến hành phân tích quy trình kết hợp với phương pháp định tính, đồng thời, kết hợp với thực hiện khảo sát hồ sơ kiểm toán để đề xuất giải pháp tối ưu nhất cho quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu hoạt động tại các công ty chứng khoán.1 Khái niệm về kiểm toán và các vấn đề có liên quan 2.1 Khái niệm kiểm toán Theo giáo trình Kiểm toán (Trần Thị Giang Tân, 2017) đã đề cập: “Kiểm toán là việc kiểm tra, xem xét, thẩm tra, đánh giá, kết luận và xác nhận tính đầy đủ, trung thực, hợp lý của số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính theo các chuẩn mực được xác định trước của những tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước về kinh tế, do các nhân viên gọi là kiểm toán viên có đủ trình độ, có nghề nghiệp chuyên môn giỏi thực hiện.2 Khái niệm liên quan - Kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán do kiểm toán viên độc lập thực hiện theo hợp đồng với tổ chức, cá nhân có nhu cầu kiểm toán đối với hoạt động tài chính của mình. Hoạt động của Kiểm toán viên độc lập nhằm giúp cho tổ chức, cá nhân có 9 nhu cầu kiểm toán thẩm định tính đầy đủ, trung thực, hợp lí của số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính. Kết quả của hoạt động kiểm toán thể hiện ở báo cáo kiểm toán do đoàn kiểm toán hoặc Kiểm toán viên lập. Giá trị pháp lí của báo cáo kiểm toán tài chính phụ thuộc vào chủ thể tiến hành kiểm toán.
- Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500, ban hành kèm Thông tư số 214/2012/TT- BTC quy định rằng: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin, do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo tính đầy đủ và tính thích hợp. + Đầy đủ: Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng bằng chứng kiểm toán. Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của kiểm toán viên đối với rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán.
+ Thích hợp: Là tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng của các bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo phù hợp và đáng tin cậy để hỗ trợ cho kiểm toán viên đưa ra các kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán.” - Theo Chuẩn mực kiểm toán số 320 về mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán bân hành kèm theo Thông tư 214/2012/TT-BTC quy định rằng: “Trọng yếu là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. - Mức trọng yếu là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có.
Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính. + Định lượng: Số tiền sai phạm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC. 10 + Định tính: bản chất của sự sai phạm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC.” - Theo Chuẩn mực kiểm toán số 200 được ban hành bởi Bộ Tài Chính quy định rằng: “Rủi ro kiểm toán (Audit Risk- AR) là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Các bộ phận của rủi ro kiểm toán: + Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk- IR): Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan.
+ Rủi ro kiểm soát (Control Risk- CR): Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. + Rủi ro phát hiện (Detect Risk- DR): Là rủi ro mà trong quá trình kiểm toán, các thủ tục mà kiểm toán viên thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại.” - Trong Chuẩn mực kiểm toán số 240 quy định về “Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính” đề cập rằng: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.” - Chuẩn mực kiểm toán số 450 đề cập về vấn đề “Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán” quy định rằng: “Sai sót là sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên báo cáo tài chính với giá 11 trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Sai sót có thể phát sinh do nhầm lẫn hoặc gian lận.” - Theo Chuẩn mực kiểm toán số 200 được ban hành bởi Bộ Tài Chính quy định rằng:“Thử nghiệm kiểm soát là thủ tục kiểm toán được thiết kế nhằm đánh giá tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát trong việc ngăn ngừa, hoặc phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu. - Thử nghiệm cơ bản là thủ tục kiểm toán được thiết kế nhằm phát hiện các sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu.
Các thử nghiệm cơ bản bao gồm: thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết. + Thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin tài chính, các chỉ số, các tỷ lệ, để phát hiện và nghiên cứu về các trường hợp bất thường.