Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế. Cùng với sự mở rộng và nâng cấp hệ thống khám chữa bệnh, lượng chất thải y tế phát sinh – đặc biệt là chất thải y tế nguy hại – ngày càng gia tăng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1994), khoảng 10% chất thải y tế là chất thải lây nhiễm và 5% là chất thải độc hại (chất phóng xạ, hóa chất gây độc tế bào, hóa chất chẩn đoán). Nếu không được quản lý và xử lý đúng quy chuẩn, chất thải y tế sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường, làm lây lan mầm bệnh sang khu vực dân cư xung quanh và gia tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn thứ phát.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang là cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh hạng II, giữ vai trò trung tâm y tế của tỉnh Tuyên Quang. Bệnh viện có quy mô thiết kế 500 giường bệnh với đầy đủ các khoa Nội, Ngoại và Cận lâm sàng; lượng bệnh nhân đến khám trung bình từ 400 đến 600 ca/ngày, công suất sử dụng giường bệnh thường xuyên vượt ngưỡng (đạt 135% vào năm 2013). Do bệnh viện nằm tại trung tâm thành phố Tuyên Quang (phường Tân Hà), nơi có mật độ dân cư tập trung đông đúc và là đầu mối giao thông chính, mọi tồn tại trong quy trình thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải đều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cộng đồng lân cận.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Khoa học và Quản lý Môi trường của tác giả Vũ Lan Trang (Chương trình Tiên tiến Khóa 42, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Quốc tế - Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên), dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hùng Quang, đã thực hiện đề tài: "Assessment of status medical waste management and treatment in Tuyen Quang General Hospital" (Đánh giá hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang).

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang.
  2. Đánh giá hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải y tế (bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, nước thải và các yếu tố môi trường không khí).
  3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chất thải y tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang đang diễn ra như thế nào?
  • Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải y tế đang được áp dụng tại bệnh viện có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật?
  • Cần áp dụng những giải pháp nào để kiểm soát chặt chẽ quy trình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình quản lý, hệ thống thu gom, phân loại, các trạm xử lý chất thải rắn, nước thải y tế và các nguồn phát thải liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ khuôn viên, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, khu vực kho lưu giữ và trạm xử lý chất thải của Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong 4 tháng; chuỗi số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2013–2014; hoạt động lấy mẫu quan trắc thực địa được tiến hành vào tháng 10 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở khoa học

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn môi trường Việt Nam:

  • Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.
  • Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.
  • Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện Nghị định 59/2007/NĐ-CP.
  • Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế.
  • Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT ngày 07/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
  • Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
  • Thông tư số 31/2013/TT-BYT ngày 15/10/2013 của Bộ Y tế quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện.
  • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5999:1995 về lấy mẫu và bảo quản mẫu nước thải.
  • Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 28:2010/BTNMT về nước thải y tế.

Cơ sở lý thuyết về chất thải y tế và công nghệ xử lý

Theo phân loại của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), chất thải y tế bao gồm:

  • Chất thải lây nhiễm: Nhóm A (chất thải sắc nhọn: kim tiêm, lưỡi dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ), Nhóm B (chất thải lây nhiễm không sắc nhọn dính máu hoặc dịch sinh học), Nhóm C (chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm), Nhóm D (chất thải giải phẫu, mô, cơ quan, nhau thai, xác động vật thí nghiệm).
  • Chất thải hóa học nguy hại: Dược phẩm quá hạn, hóa chất xét nghiệm, dung môi, formaldehyt.
  • Chất thải phóng xạ: Dạng rắn, lỏng, khí phát sinh từ hoạt động chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm hạt nhân.
  • Bình chứa áp lực: Bình oxy, khí nén, $\text{CO}_2$.
  • Chất thải thông thường: Rác thải sinh hoạt và chất thải y tế không dính thành phần nguy hại có thể tái chế.

Khóa luận tổng hợp các công nghệ xử lý chất thải y tế trên thế giới và tại Việt Nam: thiêu đốt (Incineration); khử khuẩn hóa học bằng formaldehyt, ethylene oxide, natri hypoclorit ($\text{NaOCl}$); khử khuẩn nhiệt ướt (nồi hấp Autoclave 121–160°C) và nhiệt khô; công nghệ vi sóng (bước sóng ~12,2 cm, tần số 2450 MHz, công suất xử lý khoảng 250 kg/giờ); phương pháp trơ hóa (phối trộn 65% chất thải y tế nguy hại, 15% vôi, 15% xi măng và 5% nước); và chôn lấp hợp vệ sinh.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2013–2014 từ Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang.
  • Phương pháp phỏng vấn và khảo sát thực địa: Khảo sát các khoa phòng, buồng bệnh, khu vực cách ly, kho lưu giữ chất thải và khu vực vận hành lò đốt; phỏng vấn trực tiếp nhân viên y tế, hộ lý và công nhân vận hành.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm:
    • Mẫu nước thải được lấy vào lúc 14:30 ngày 16/10/2014 (điều kiện thời tiết nắng ráo) tại 2 vị trí: Điểm NT1 (nước thải y tế trước xử lý tại bể gom tập trung) và Điểm NT2 (nước thải sau xử lý tại cửa xả tập trung).
    • Thiết bị lấy mẫu gồm bình nhựa Poly-ethylene (PE) dung tích 500 ml và 1000 ml. Mẫu được bảo quản và vận chuyển theo TCVN 5999:1995; quá trình phá mẫu phục vụ phân tích được thực hiện trên máy phá mẫu 705 ở nhiệt độ 90°C trong 45 phút, đối chiếu các chỉ tiêu phân tích theo QCVN 28:2010/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang tiền thân là Bệnh xá Cách mạng tỉnh Tuyên Quang thành lập năm 1945. Bệnh viện có cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, các phòng chức năng (Kế hoạch - Tổng hợp, Tổ chức cán bộ, Tài chính - Kế toán, Quản trị - Hành chính, Vật tư - Thiết bị y tế, Điều dưỡng, Đào tạo - Chỉ đạo tuyến), 24 khoa lâm sàng (Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Ung bướu, Khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Khoa Nội, Khoa Ngoại...) và 6 khoa cận lâm sàng (Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Dược, Khoa Huyết học - Truyền máu, Khoa Hóa sinh - Vi sinh, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Giải phẫu bệnh).

Bệnh viện đảm nhận 7 chức năng chính: Cấp cứu - khám chữa bệnh; Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học y học; Chỉ đạo tuyến; Phòng chống dịch bệnh; Hợp tác kinh tế y tế; và Quản lý kinh tế y tế.

Hiện trạng phát sinh, phân loại và xử lý chất thải rắn

Lượng chất thải rắn thông thường phát sinh tại bệnh viện ước tính dựa trên quy mô 1.814 người lưu trú/ngày (564 cán bộ nhân viên, 500 bệnh nhân nội trú và khoảng 750 người nhà đi kèm với định mức 1,5 thân nhân/bệnh nhân). Với định mức phát sinh 0,5 kg/người/ngày, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh là 907 kg/ngày. Toàn bộ lượng rác thải này được phân loại hàng ngày bằng thùng màu xanh và ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị và Dịch vụ Tuyên Quang thu gom, vận chuyển và xử lý. Nhóm rác tái chế không nguy hại được lưu giữ tại kho của Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và bán cho đơn vị có chức năng.

STT Tên loại chất thải nguy hại Trạng thái Số lượng trung bình (kg/tháng) Mã chất thải
1 Vỏ hộp mực in Rắn 10 08 02 04
2 Chất thải có chứa tác nhân lây nhiễm Rắn / Bùn sệt 1.100 (rắn) / 2.000 (bùn)
3 Chất thải hóa học có thành phần nguy hại Lỏng 3.000 13 01 02
4 Chất hàn Amalgam nha khoa Rắn 3 13 01 04
5 Bóng đèn huỳnh quang và chất thải chứa thủy ngân Rắn 15 16 01 06
6 Chất tẩy rửa có thành phần nguy hại Lỏng 500 16 01 10
7 Bao bì dính thành phần nguy hại Rắn 50 18 01 01
8 Giẻ lau, vải vụn dính thành phần nguy hại Rắn 40 18 02 01
9 Dung dịch phá hủy chất thải Lỏng 40 19 01 04

Lượng chất thải rắn y tế nguy hại có sự biến động rõ rệt giữa các tháng trong năm do yếu tố thời tiết mùa đông làm tăng tỷ lệ nhập viện:

Thời điểm Khối lượng CTR y tế nguy hại (kg) năm 2013 Khối lượng CTR y tế nguy hại (kg) năm 2014
Tháng 1 2.682,0 2.741,5
Tháng 10 3.031,0 2.847,0
Tháng 11 2.948,0 3.082,0
Tháng 12 2.970,0

Chất thải nguy hại được phân loại tại nguồn bằng thùng màu vàng có nắp đậy và lót túi nhựa chuyên dụng. Hàng ngày, chất thải nguy hại được thu gom về kho lưu giữ tập trung và xử lý triệt để bằng hệ thống lò đốt rác y tế tại chỗ với công suất 30 kg/giờ, vận hành định kỳ vào lúc 13h00. Tro xỉ sau đốt và mảnh vỡ thủy tinh trơ được chôn lấp cách ly trong khuôn viên bệnh viện.

Hiện trạng và công nghệ xử lý nước thải y tế

Tổng lượng nước cấp tiêu thụ của bệnh viện trung bình $262\text{ m}^3/\text{ngày}$. Lưu lượng nước thải xả ra tính bằng 80% lượng nước cấp, tương đương $Q_{\text{xả}} = 210\text{ m}^3/\text{ngày}$. Trong đó, lưu lượng nước thải y tế đặc thù chiếm khoảng 25% tổng lượng xả thải ($Q_{\text{y tế}} = 53\text{ m}^3/\text{ngày}$).

Quy trình công nghệ hệ thống xử lý nước thải y tế của bệnh viện vận hành theo các công đoạn nối tiếp:

  1. Bể thu gom và song chắn rác: Nước thải đi qua song chắn rác đặt nghiêng để loại bỏ tạp chất thô trước khi vào bể điều hòa.
  2. Thiết bị keo tụ - tạo bông và lắng: Nước thải từ bể điều hòa được bơm lên thiết bị keo tụ - lắng; hóa chất keo tụ và trợ keo tụ được cấp bằng bơm định lượng vào đường ống theo nguyên lý thủy lực. Bông cặn hình thành lắng xuống đáy thiết bị và được xả định kỳ về bể phân hủy bùn bằng áp lực thủy tĩnh.
  3. Tháp lọc sinh học: Nước trong sau lắng chảy tràn sang bể trung gian và được bơm lên tháp lọc sinh học. Nước thải phân phối đều qua các lớp vật liệu lọc; màng vi sinh vật trên bề mặt vật liệu hấp thụ và oxy hóa các hợp chất hữu cơ nhờ oxy cấp từ quạt gió đáy tháp.
  4. Bể lắng thứ cấp (bể lắng 2): Hỗn hợp nước và màng vi sinh bong tróc tự chảy vào bể lắng đợt 2 để tách bùn hoạt tính. Bùn lắng dẫn về bể phân hủy bùn, nước trong chảy sang bể khử trùng.
  5. Bể khử trùng: Nước thải được hòa trộn hóa chất khử trùng qua ống vách ngăn tại cửa vào bằng bơm định lượng, tiếp xúc để tiêu diệt triệt để vi sinh vật gây bệnh trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
  6. Bể phân hủy bùn: Bùn từ thiết bị keo tụ - lắng và bể lắng thứ cấp được dẫn về bể phân hủy bùn tự hoại. Nước tách bùn được tuần hoàn về bể thu gom; bùn cặn định kỳ được hút vận chuyển xử lý bởi xe hút bồn của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị và Dịch vụ Tuyên Quang.

Đánh giá các yếu tố môi trường không khí, vi sinh vật và an toàn bức xạ

Nghiên cứu đánh giá các tác động môi trường không khí và vật lý phát sinh trong bệnh viện:

  • Khí thải giao thông và điều hòa nhiệt độ: Phương tiện ra vào phát sinh bụi, $\text{SO}_2$, $\text{NO}_2$, $\text{CO}$ nhưng mật độ thấp nên mức độ ảnh hưởng không lớn. Hệ thống làm lạnh tại các phòng cấp cứu sử dụng môi chất thuộc nhóm độc hại loại 2 ($\text{NH}_3$) tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ nếu áp lực đầu nén không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.
  • Khí thải từ hóa chất và vi sinh vật: Dung môi hữu cơ (chloroform, formalin, cồn) và hoạt động phân hủy chất hữu cơ tại khu nhà vệ sinh, cống rãnh, kho lưu giữ rác gây mùi khó chịu đặc trưng. Vi sinh vật gây bệnh trong không khí phát tán từ phòng khám, lavabo xét nghiệm, buồng bệnh và khoa truyền nhiễm. Thời gian tồn tại của các vi sinh vật gây bệnh trong không khí được ghi nhận: Streptococcus pneumoniae (4–5 tháng), Streptococcus pyogenes (2,5–6 tháng), Staphylococcus aureus (3 ngày), Yersinia pestis (8 ngày), vi khuẩn bạch hầu (30 ngày), Mycobacterium tuberculosis (70 ngày).
  • Bức xạ ion hóa: Nguy cơ rò rỉ tia X từ các thiết bị chẩn đoán hình ảnh do khe hở cửa bọc chì không sát sàn, cửa chì nặng đóng không kín hoặc nhân viên không mặc áo chì bảo hộ do nặng và nóng.
  • Tiếng ồn và độ rung: Bệnh viện không có nguồn phát sinh tiếng ồn lớn, ngoại trừ khu vực đón tiếp và khám bệnh đông người.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh định lượng về quy mô chất thải rắn sinh hoạt ($907\text{ kg/ngày}$) và chất thải rắn y tế nguy hại (dao động từ $2.682\text{ kg}$ đến $3.082\text{ kg/tháng}$) phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang.
  • Xác định lưu lượng phát sinh nước thải y tế của bệnh viện là $53\text{ m}^3/\text{ngày}$ (trên tổng số $210\text{ m}^3/\text{ngày}$ nước thải toàn viện).
  • Đánh giá chi tiết chu trình vận hành công nghệ xử lý nước thải y tế kết hợp keo tụ - tạo bông, lọc màng sinh học hiếu khí và khử trùng hóa chất.
  • Khảo sát thực trạng vận hành lò đốt rác thải y tế công suất 30 kg/giờ (đốt vào 13h00 hàng ngày) và ghi nhận quy trình chôn lấp xỉ than, tro đốt tại chỗ.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  1. Về thu gom và xử lý chất thải rắn:
    • Tăng cường kiểm tra phân loại triệt để chất thải y tế nguy hại ngay tại nơi phát sinh (buồng bệnh, phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm), tuyệt đối không để lẫn vào rác sinh hoạt.
    • Nâng cấp và bảo trì định kỳ hệ thống lò đốt rác công suất 30 kg/giờ để đảm bảo nhiệt độ buồng đốt, xử lý khí thải đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường xung quanh.
    • Quản lý chặt chẽ quy trình thu gom tro xỉ, mảnh vỡ thủy tinh và xử lý đóng kén/trơ hóa đúng quy chuẩn.
  2. Về vận hành hệ thống nước thải:
    • Duy trì chế độ bảo dưỡng máy bơm, quạt cấp khí cho tháp lọc sinh học và máy châm hóa chất khử trùng định kỳ; thực hiện hút bùn đáy bể tự hoại theo kế hoạch.
    • Thường xuyên quan trắc định kỳ các thông số ô nhiễm trong nước thải đầu ra theo QCVN 28:2010/BTNMT.
  3. Về kiểm soát môi trường không khí và an toàn bức xạ:
    • Tăng cường trồng dải cây xanh cách ly quanh tường rào và sân viện để cản bụi, hấp thụ khí thải và giảm thiểu tiếng ồn.
    • Bảo ôn hệ thống đường ống thông gió điều hòa với lớp cách nhiệt dày tối thiểu 25 mm; trang bị quạt thông gió tại phòng khám và buồng bệnh để giảm nồng độ hóa chất khử trùng.
    • Tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật vô khuẩn, khử trùng dụng cụ bằng nhiệt hoặc hóa chất đúng nồng độ và thời gian quy định; trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động (áo chì, kính chì) và đóng kín cửa chì khi vận hành máy chụp X-quang.

Đóng góp của đề tài

Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về định mức phát thải chất thải rắn và nước thải y tế tại một bệnh viện tuyến tỉnh miền núi phía Bắc. Nghiên cứu chỉ rõ các điểm xung yếu trong quá trình vận hành lò đốt, trạm xử lý nước thải và an toàn bức xạ ion hóa, hỗ trợ Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang đưa ra các biện pháp quản lý môi trường phù hợp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trong khung thời gian giới hạn 4 tháng; số đợt lấy mẫu phân tích nước thải thực tế còn ít (lấy vào một ngày điển hình 16/10/2014); chưa thực hiện đo đạc định lượng chi tiết các chỉ tiêu khí thải phát sinh từ ống khói lò đốt rác y tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chương trình quan trắc môi trường theo chuỗi thời gian liên tục qua các mùa; thực hiện đánh giá toàn diện chất lượng khí thải lò đốt rác y tế và đánh giá lan truyền ô nhiễm vi sinh vật trong không khí xung quanh bệnh viện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Y tế Công cộng khi nghiên cứu về quản lý chất thải bệnh viện.
  • Cán bộ phụ trách Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Phòng Quản trị - Hành chính tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện trong việc thiết lập quy trình thu gom, lưu giữ và giám sát trạm xử lý nước thải, lò đốt rác y tế.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: Sơ đồ công nghệ và nguyên lý vận hành hệ thống xử lý nước thải y tế bằng tháp lọc sinh học; Bảng danh mục và mã chất thải nguy hại phát sinh hàng tháng theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT; Bảng tổng hợp thời gian tồn tại của các loại vi sinh vật gây bệnh trong không khí.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang được tính toán dựa trên cơ sở nào?
Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh được tính toán dựa trên tổng số 1.814 người duy trì thường xuyên tại bệnh viện (gồm 564 cán bộ nhân viên, 500 bệnh nhân nội trú và khoảng 750 người nhà đi cùng với tỷ lệ 1,5 thân nhân/bệnh nhân). Với định mức 0,5 kg/người/ngày, tổng lượng rác sinh hoạt phát sinh là 907 kg/ngày.

2. Khối lượng chất thải y tế nguy hại tại bệnh viện biến động như thế nào giữa các thời điểm trong năm?
Lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh cao hơn vào mùa đông do điều kiện thời tiết làm gia tăng số ca mắc bệnh và số lượng bệnh nhân nhập viện. Cụ thể, lượng chất thải nguy hại trong tháng 11 đạt 2.948 kg (năm 2013) và 3.082 kg (năm 2014), trong khi tháng 1/2013 chỉ đạt 2.682 kg và tháng 1/2014 đạt 2.741,5 kg.

3. Hệ thống xử lý nước thải y tế của Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang áp dụng quy trình công nghệ nào?
Hệ thống xử lý nước thải y tế của bệnh viện áp dụng quy trình công nghệ kết hợp: Hố ga + song chắn rác $\rightarrow$ Bể gom/bể điều hòa $\rightarrow$ Thiết bị keo tụ - tạo bông và lắng $\rightarrow$ Bể trung gian $\rightarrow$ Tháp lọc màng sinh học $\rightarrow$ Bể lắng thứ cấp $\rightarrow$ Bể khử trùng hóa chất trước khi xả ra nguồn tiếp nhận; bùn cặn được chuyển về bể phân hủy bùn tự hoại và hút xử lý định kỳ.

4. Thiết bị xử lý nhiệt chất thải rắn y tế tại chỗ của bệnh viện có công suất và chế độ vận hành như thế nào?
Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang sử dụng hệ thống lò đốt rác y tế chuyên dụng đặt tại khuôn viên bệnh viện, có công suất thiết kế 30 kg/giờ và được vận hành xử lý rác y tế nguy hại định kỳ vào lúc 13h00 hàng ngày.

5. Vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) và vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) có thể tồn tại trong không khí bệnh viện bao lâu theo số liệu tham chiếu trong khóa luận?
Theo số liệu tham chiếu từ WHO (1994) được trình bày trong khóa luận, vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) có thể tồn tại trong không khí lên đến 70 ngày, trong khi vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) có thời gian tồn tại từ 4 đến 5 tháng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Lan Trang đã phản ánh toàn diện hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn, nước thải và kiểm soát ô nhiễm không khí tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013–2014. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ định mức phát thải, đánh giá hiệu quả chu trình công nghệ xử lý nước thải sinh học và lò đốt rác y tế 30 kg/giờ, đồng thời chỉ ra các rủi ro phát tán vi sinh vật và rò rỉ bức xạ X-quang. Các giải pháp kỹ thuật và quản lý được đề xuất có tính ứng dụng thực tế cao, đóng góp thiết thực cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh.