Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về TTBYT TTBY bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, phương tiện phục vụ cho các hoạt động chãm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, là loại hàng hoá đặc biệt, chủng loại đa dạng và luôn được cập nhật ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới, thế hệ công nghệ luôn thay đổi [21] Theo ủy ban tư vấn về tiêu chuẩn chất lượng/nhóm công tác về sản phẩm TTBYT (ACCSQ - MDPWG) thì: TTBYT là những dụng cụ, bộ dụng cụ, thiết bị máy móc, vật dụng, mô cấy, thuốc thừ trong phòng thí nghiệm, phần mềm, nguyên vật liệu hay các vật phẩm tương tự hoặc có liên quan khác dùng trong ngành y tế[3]: + Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị hay làm nhẹ bệnh. + Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, làm dịu hay phục hồi chấn thương. + Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hồ trợ công tác giải phẫu hay các quy trình sinh lý khác.
+ Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống. + Kiểm soát sự thụ thai. + Khử trùng các thiết bị y tế. + Cung cấp thông tin cho mục đích chẩn đoán y học bằng phương pháp thử nghiệm trên cơ thể con người.
Thiết bị y tế được sử dụng độc lập sẽ không phát huy được hiệu quả như mong muốn trên cơ thể con người, cần phải phối hợp các phương pháp như: dược lý học, miễn dịch học hay trao đổi chất thì chức năng của chúng mới hoàn thiện hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Thực trạng trang thiết bị y tế ở Việt Nam Những kết quả ban đầu về điều tra TTBYT trong cả nước (1991 -1994) do Vụ trang thiết bị và Công trình y tế - Bộ Y tế tiến hành [24]: ■ 7 J Tuyến TW: Chỉ đạt 40% về chủng loại và số lượng. Hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị đúng tính năng kỳ thuật chỉ đạt 20%. J Tuyến tinh - thành phố: Chỉ đạt 30% về chủng loại và số lượng.
Hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị đúng tính năng kỹ thuật chỉ đạt từ 10% - 15%. J Tuyến quận -huyện: TTBYT hầu hết vào loại kém và lạc hậu, nhiều cơ sở còn thiếu cả dụng cụ thông thường. J Một số huyện vùng sâu, vùng xa vẫn đang sừ dụng những TTBYT từ những năm 1980. Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trạng bị một số thiết bị cơ bản: Máy X quang cao tần - tãng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá nhiều chỉ số, máy xét nghiệm huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sốc tim, máy theo dõi BN.
Các trung tâm y tế đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, mảy siêu âm chẩn đoán và xe ô tô cứu thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số ke hoạch hoá gia đình. TTBYT cùa Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y te chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không đủ kinh phí để mua VTTH.
Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết tính năng và công suất của trang thiết bị hiện có. Năng lực của CBKT sửa chữa TTBYT chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ. Chất lượng đào tạo, bổ trí sử dụng nhân lực chuyên môn về kỳ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu [16]. Chu trình về quản lý TTBYT 1.
Quản lý công tác mua sắm TTBYTỊ16Ị 1. Hoạt động mua sắm TTBYT về góc độ quàn lý, hoạt động mua sẩm TTBYT phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau: a. Đúng chùng loại d. Chất lượng cao e.
Chi phí thấp nhất (tại thời điểm mua) f. Đúng thủ tục, quy chế về quản lý mua sắm của Nhà nước. Đáp ứng được 6 yêu cầu trên, đòi hỏi người quàn lý, bộ phận quản lý phải có trình độ chuyển môn và kinh nghiệm công tác. Tuy nhiên với những thiết bị y tế hiện đại, đồng bộ, giá trị kinh tế cao thì việc chọn mua được thiết bị có cấu hình phù hợp với yêu cầu sử dụng, chất lượng tốt, đúng thủ tục, quy chế và giá cả hợp lý là rất khó.
Điều đó khó vì chúng ta thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức đối với các TTB YT mới được đưa vào sử dụng tại Việt Nam, trong lúc những loại TTB YT mới được sử dụng trong Ngành y tế ngày càng nhiều, thiếu thông tin về nhà sản xuất TTBYT, thiếu thông tin về giá. Mặt khác, trong công tác quản lý Nhà nước, các quy chế, thủ tục mua sam luôn thay đổi, đòi hỏi người quản lý luôn phải cập nhật kiến thức chuyên môn, cũng như hệ thống văn bản quy chế pháp luật đê có thê triên khai hoạt động mua săm đạt kết quả tốt nhất. Phương thức chọn mua sắm thiết bị y tế Để chọn mua được thiết bị y tế đáp ứng yêu cầu chuyên môn, đúng với tiêu chuẩn phân tuyến kỹ thuật và giá cả họp lý cần có các yêu cầu sau đây: a. Có đầy đủ tài liệu kỹ thuật (catolog) chào hàng loại thiết bị y tế cần mua của ít nhất 4 hãng nổi tiếng trên thế giới hoặc trong nước để làm cơ sở so sánh (cấu hình, tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng).
Có chứng chỉ đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Thiết bị có khả năng ghép nối và nâng cấp. Đào tạo, hướng dẫn sử dụng và bảo dưỡng thiết bị. Có khả năng cung cấp vật tư tiêu dùng và phụ tùng thay thế giá thấp ít nhất là 5 năm khi hết thời gian bảo hành.
Thời gian bảo hành là bao lâu (12 tháng, 24 tháng, 36 tháng) g. Uy tín của nhà cung cấp trên thị trường Việt Nam. Lập kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng, thay thế và thiết bị, dụng cụ y tế. Công việc lập kế hoạch mua sắm VTTH, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TTBYT là một trong những chức năng chủ yếu của phòng vật tư kỹ thuật.
Lập kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TTBYT phải tiến hành theo tháng, quý và năm. Đối với phụ tùng thay thế và dụng cụ như: Các linh kiện thay thế cho máy X-quang, máy điện tim, điện não. và các dụng cụ dùng trong khám, chẩn đoán và điều trị, các dụng cụ phục vụ cho phòng mổ phải tiến hành lập kế hoạch theo quý trên cơ sở nhu cầu của các khoa phòng gửi về phòng hay tổ vật tư của BV. Quản lý hiện trạng TTBYTỊ16] Một số nội dung chính trong quản lý hiện trạng TTBYT: ♦ Quản lý số đầu máy/ địa điểm lắp đặt/ đơn vị quản lý.
♦ Quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến thiết bị (tài liệu hướng dẫn sử dụng, tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng sửa chừa) Lập hướng dẫn sử dụng Đây là văn bàn quy phạm kỹ thuật cần in đậm đọc, trên khổ giấy A4 có chữ ký của thủ trưởng và đóng dấu. 10 Nội dung hướng dẫn gồm từng mục, đơn giản, rõ ràng ngắn gọn, dễ hiểu. Thường hướng dẫn sử dụng gồm các nội dung: a. Kiểm tra trước khi mở máy.
Trình tự vận hành c. Tắt máy vệ sinh Nhật ký sử dụng máy Sau mỗi lần sử dụng máy, thiết bị - vận hành phải ghi vào nhật ký' vận hành những thông tin sau: Ngày, tháng, năm sử dụng/ số giờ sừ dụng/ đối tượng thăm khám (mẫu đo, bệnh nhân khám) tình trạng thiết bị/ người sử dụng. Nếu máy có sự cố trong ca làm việc phải báo trưởng đơn vị, báo phòng vật tư TTB cùng làm biên bản xác định mức độ hỏng hóc, nguyên nhân, hướng khẳc phục. Việc ghi nhật ký đầy đủ ngày sẽ giúp cho công tác đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng và tính được hiệu quả đầu tư.
Lập sổ theo dõi Sổ quản lý thiết bị - Còn gọi là lý lịch thiết bị. Mỗi cuốn lý lịch dùng cho thiết bị, trong đó cần ghi các thông tin: > Tên thiết bị, ký mã hiệu, model, nước sản xuất. > Cấu hình (bao gồm thiết bị chính và những thiết bị ngoại vi) > Nám nhận thiết bị > Giá tiền > Nguồn kinh phí > Đơn vị cung cấp thiết bị > Tên người quản lý trực tiếp > Vị trí lắp đặt > Tình trạng thiết bị lúc tiếp nhận Và các trang để ghi : V Số lần hỏng hóc V Ngày dừng máy để sửa chữa ■ 11 J Bộ phận đã sửa chữa J Chất lượng (các chức năng của máy) sau sửa chữa. J Di, biến động của thiết bị (bao gồm cả phầm mua sắm nâng cấp, chuyên đon vị, người sử dụng) Một số đon vị đã triển khai công tác quản lý trang thiết bị theo chưong trình phần mềm được cài đặt trên máy tính.
Biền bản kiểm chuẩn Biên bản kiểm chuẩn là tài liệu ghi lại các kết quả trong quá trình kiểm chuẩn, đặc biệt là các số liệu và kết quả của việc kiểm đo lường. Đây là tài liệu gốc có tính chất pháp lý quan trọng vì nỏ là cơ sở để đánh giá, phân tích kết quả kiểm chuẩn. Người kiểm chuẩn, phương tiện đo phải ghi lại đầy đủ và trung thực các số liệu, không được tùy tiện vứt bò các số liệu mà mìn cảm thấy vô lý. Chứng chỉ kiểm chuẩn Theo định kỳ 6 tháng hoặc 12 tháng (tuỳ theo từng thiết bị) tất cả TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở phải được cơ quan có thẩm quyền đến kiểm định và cấp chứng chỉ.
Hiện nay, trong ngành y tế công việc này tiến hành còn rất hạn chế, tuỳ tiện do những lý do chủ quan và khách quan dưới đây : J Pháp lệnh đo lường chưa được chấp hành nghiêm trong hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khoẻ. J Trong phân bổ kinh phí hàng nãm chưa có hạng mục : Kinh phí kiểm chuẩn TTBYT. Trang thiết bị đo chuẩn, trình độ cán bộ, lực lượng cán bộ cùa phòn đo chuẩn thuộc viện TTB và công trình y tế chưa đáp ứng được yêu cầu, kiểm chuẩn TTB YT của các ơ sở trong ngành.