Đặt vấn đề Đã từ lâu “sự nóng lên” trong việc sử dụng đất đai đã kéo theo hàng loạt những vấn đề phức tạp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai .Trong quá trình phát triển của nước ta hiện nay ,sự gia tăng dân số ,nhu cầu phát triển của đô thị ,sự tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển của của xã hội đã tạo nên áp lực lớn đối với sự lạc hậu ,nghèo đói ,trình độ văn hóa thấp ,sử dụng đất chưa hợp lí. Do những nguyên nhân nhất định mà công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nhiều nơi còn chưa chặt chẽ hoặc biện pháp quản lý chưa phù hợp ,chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Chính vì thế ,vấn đề quản lý và sử dụng đất đai càng trở lên quan trọng hơn đối với đời sống người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ,đòi hỏi công tác quản lý đất đai ,phải có biện pháp phù hợp và chặt chẽ hơn. Xã Văn Hán nằm ở phía Đông huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện 25km.
Là một xã còn nhiều khó khăn nhưng trong thời gian qua cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhu cầu về sử dụng đất ngày càng tăng lên khiến cho quá trình sử dụng đất có nhiều biến động lớn, dẫn đến công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn cần được quan tâm nhiều hơn làm thế nào để có thể sử dụng hợp lý, khoa học và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai này. Chính vì vậy ,công tác quản lý Nhà nước về đất đai quy định rõ trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai của Luật đất đai 2003 luôn được Đảng bộ và chính quyền nơi đây đặc biệt quan tâm. Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm_Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Quý Ly tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2014”. Mục đích, yêu cầu,ý nghĩa của đề tài 1.
Mục đích của đề tài - Tìm hiểu công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã. - Đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai theo 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo Luật đất đai năm 2003 tại xã Văn Hán, giai đoạn 2012 – 2014. - Làm rõ những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. - Phân tích những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khả thi giúp cho công tác quản lý đất đai ngày càng khoa học và đạt hiệu quả cao nhất trong thời gian tiếp theo.
Yêu cầu của đề tài - Nắm vững 13 nội dung quản lý về đất đai. - Nắm vững các văn bản pháp luật đất đai. - Các số liệu trung thực khách quan. - Những đề xuất phải khoa học có tính khả thi,phù hợp với thực trạng của địa phương.
Ý nghĩa của đề tài - Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế. - Tăng cường hơn nữa trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong Luật đất đai. - Tuyên truyền sâu rộng tới từng hộ dân trong toàn xã quyền, lợi ích và nghĩa vụ trong Luật đất đai. - Trang bị thêm kiến thức và giúp các nhà quản lý thấy được những mặt mạnh và mặt hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương.
e 3 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về đất đai “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa,…)”. Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất - Con người: Là nhân tố chi phối chủ yếu trong quá trình sử dụng đất. Đối với đất nông nghiệp thì con người có vai trò rất quan trọng tác động đến đất làm tăng độ phì của đất.
- Điều kiện tự nhiên: Việc sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng như: địa hình, thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng mưa…Do đó chúng ta phải xem xét điều kiện tự nhiên của mỗi vùng để có biện pháp bố trí sử dụng đất phù hợp. - Nhân tố kinh tế xã hội: Bao gồm chế độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, cơ cấu kinh tế,… Đây là nhóm nhân tố chủ đạo và có ý nghĩa đối với việc sử dụng đất bởi vì phương hướng sử dụng đất thường được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, điều kiện kỹ thuật hiện có, tính khả thi, tính hợp lý, nhu cầu của thị trường. e 4 - Nhân tố không gian: Đây là một trong những nhân tố hạn chế của việc sử dụng đất mà nguyên nhân là do vị trí và không gian của đất không thay đổi trong quá trình sử dụng đất. Trong khi đất đai là điều kiện không gian cho mọi hoạt động sản xuất mà tài nguyên đất thì lại có hạn; bởi vậy đây là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng đất.
Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất phải biết tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả, đảm bảo phát triển tài nguyên đất bền vững. Khái niệm về quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về đất 2. Đối tượng, mục đích, yêu cầu, nguyên tắc quản lý của quản lý nhà nước về đất đai 2.
Đối tượng của quản lý đất đai Đối tượng của quản lý đất đai là vốn đất của nhà nước (toàn bộ trong phạm vi ranh giới quốc gia từ biên giới tới hải đảo, vùng trời, vùng biển) đến từng chủ sử dụng đất. Chế độ sở hữu nhà nước về đất đai là điều kiện quyết định để tập hợp, thống nhất tất cả các loại đất ở mọi vùng của tổ quốc thành vốn tài nguyên quốc gia, nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng vai trò người chủ sở hữu. Chỉ giao cho các đơn vị cá nhân khác nhau để sử dụng đất, trong điều 5 Luật đất đai 2003 ghi: “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ e 5 gia đình cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Nhà nước cũng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất. Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất từ người khác trong luật này gọi chung là người sử dụng đất. Được quy định ở điều 9 Luật đất đai 2003. Mục đích, yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai * Mục đích: - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất; - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường.
* Yêu cầu: - Phải đăng ký, thống kê đất đầy chính. đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành 2. Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai Đối tượng quản lý đất đai là tài nguyên đất đai cho nên quản lý Nhà nước về đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ tẻ từng vùng; - Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng; - Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng phục vụ cho mục đích sử dụng của loại đó; - Quản lý đất đai phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất trong toàn quốc; - Những quy định biểu mẫu phải được thống nhất trong cả nước, trong ngành địa chính; e 6 - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất so sánh trong cả nước; - Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước; - Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản ánh được; - Những điều kiện riêng biệt phải được tổng hợp ở phần phụ lục để nhà nước đầu tư cái chung và cái riêng của mỗi vùng; - Quản lý đất đai phải khách quan chính xác, đúng những kết quả số liệu nhận được từ thực tế; - Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực tế; - Quản lý Nhà nước về đất đai phải trên cơ sở pháp luật, Luật đất đai, các biểu mẫu, văn bản quy định hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ trung ương đến cơ sở; - Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai Phương pháp quản lý là cách mà cơ quan quản lý sử dụng để tác động đến đối tượng quản lý (chủ sử dụng đất) nhằm thực hiện các quyết định của nhà nước.