chương I, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT- BTNMT ngày 31/12/2015 của liên bộ Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế: - Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế. - Chất thải y tế nguy hại: là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm. - Quản lý chất thải y tế: là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện. - Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT.
- Thu gom chất thải y tế: là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên cơ sở y tế. - Vận chuyển chất thải y tế: là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI 2. Đối với môi trường Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường do chất thải rắn y tế chủ yếu tác động đến môi trường nước và không khí.
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2007): Kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (năm 1998) cho thấy: các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5, NH4, Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam (2004) lượng vi khuẩn/m3 không khí cao hơn giới hạn cho phép. 5 c - Môi trường đất: Quản lý, xử lý CTRYT không đúng quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp trở nên khó khăn. Từ CTYT các tác nhân sinh học, vi sinh vật, vi khuẩn, nấm gây bệnh từ người bệnh, người lành mang trùng, người khỏi mang mầm bệnh được thải ra đất rồi lại xâm nhập trở lại người: Salmonella, Vibrio cholerea, Amip, trứng giun, … Các tác nhân hóa học, lý học, các kim loại nặng, các chất phóng xạ có thể lắng xuống mặt đất, gây ô nhiễm và tích tụ, người và động vật khi ăn phải rau, quả bị ô nhiễm được trồng trên đất đó có thể mắc phải bệnh tật.
Theo Trần Thị Minh Tâm (2007), khi nghiên cứu mức độ nhiễm trứng giun trong đất ở 11/11 bệnh viện huyện của tỉnh Hải Dương thì khu vực bãi rác bị nhiễm giun đũa ở mức đất rất bẩn (180-220 trứng giun/1kg đất) và bệnh viện chưa xử lý chất thải bị nhiễm cao hơn đối với bệnh viện xử lý chất thải và bị nhiễm cả trứng giun móc, giun tóc cho thấy nguy cơ ô nhiễm sang khu vực khoa phòng và khu vực xung quanh. - Môi trường không khí: Trong các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển, CTRYT có thể phát tán vào không khí các loại bụi, nha bào gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất. Trong khâu xử lý, CTRYT có thể phát sinh các chất khí độc hại như Dioxin, furan. từ lò đốt hay các loại chất khí như CH4, NH3, H2S.
từ các khu tập kết rác hay bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Hiện nay tình trạng sử dụng lò đốt để xử lý CTYT khá phổ biến ở các nước đang phát triển. Nhiều lò đốt không có hệ thống xử lý khí thải và nhiệt độ của buồng đốt thấp dưới 800oC đã làm phát thải Dioxin, furan ra môi trường gây ảnh hưởng tới môi trường sống từ đó tác động tới sức khỏe của cộng đồng dân cư. Theo bản kiểm kê nguồn phát thải dioxin năm 1994 ở Mỹ đã xác định được lò đốt CTYT là nguồn phát sinh lượng dioxin và furan hàng đầu ở Mỹ (Thorton et al.
Dioxin là các hợp chất hữu cơ với hai vòng benzen được kết nối bởi hai nguyên tử oxy, và chứa bốn đến tám clo được thay thế cho các nguyên tử hydro trên các vòng benzen (Schecter et al. Dioxin là chất cực kỳ độc, có thời gian bán hủy ước tính ở người là 7-11 năm. Chúng được biết là có khả năng gây ung thư cao và gây vô sinh ở người (Schecter et al. Furans có cấu trúc tương tự như dioxin, nhưng chỉ có một nguyên tử oxy giữa hai vòng benzen và có các tính chất độc tương tự.
6 c Hiệp ước EPA Hoa Kỳ ước tính rằng việc đốt rác y tế năm 1987 đã phát thải khoảng 2570g dioxin, chiếm 18% tổng số lượng dioxin do con người phát thải vào trong khí quyển. Đến năm 2000, lượng phát thải dioxin từ lò đốt chất thải y tế đã giảm 85% so với mức năm 1987 xuống còn 378 g dioxin, hay 27 % tổng lượng khí thải dioxin do con người gây ra năm đó (Elliott Steen Windfeld, 2015). EPA lưu ý rằng mặc dù lượng dioxin thải ra từ mỗi một lò đốt trong tổng số hơn 6.000 lò đốt CTYT ở Hoa Kỳ là tương đối nhỏ, nhưng với số lượng lớn lượng chất thải được đốt lại có đóng góp vào mức độ dioxin trong khí quyển khá lớn. Thực tế, hầu hết các lò đốt rác thải y tế được sử dụng ở các bệnh viện là loại lò nhỏ không được trang bị các công nghệ kiểm soát dioxin phức tạp như các lò đốt lớn hơn có thể đáp ứng nên đã làm tăng lượng khí thải dioxin vào trong khí quyển (EPA Exposure Assessment Group, 1994).
Tại Canada, việc đốt rác thải y tế đã sinh ra một lượng đáng kể lượng khí thải dioxin trong khí quyển. Mặc dù Canada đã thắt chặt các tiêu chuẩn chất lượng không khí trong vài thập kỷ qua, việc phát thải dioxin từ các cơ sở đốt rác thải y tế vẫn là nguồn thải dioxin lớn thứ hai và ước tính chiếm 22,5% tổng lượng khí thải dioxin trong nước (Elliott Steen Windfeld, 2015). Những vấn đề phát thải trên quy mô lớn được báo cáo, không đưa ra một bức tranh đầy đủ về tác động của phát thải liên quan đến các cơ sở đốt. Trên thực tế, nồng độ của dioxin ở những khu vực gần lò đốt cao hơn đáng kể so với nồng độ dioxin khí quyển (Batterman, 2004).
Đây là mối quan tâm đặc biệt vì các nước đang phát triển thường đốt CTYT trong các điều kiện không kiểm soát được và không có hệ thống xử lý khí thải, dẫn đến lượng phát thải dioxin cao từ các cơ sở xử lý chất thải (Ananth et al. Do đó, dân số sống gần các cơ sở thiêu hủy CTYT ở các nước đang phát triển thường bị phơi nhiễm với mức độ dioxin rất cao. Việc đốt các chất thải, cả y tế và đô thị, được ước tính chiếm 13% lượng phát thải thủy ngân do con người gây ra ở Bắc Mỹ, đứng thứ hai chỉ sau đốt than (55%) là nguồn phát thải (Pacyna et al. Tại Canada, các lò đốt CTYT truyền nhiễm ước tính chiếm khoảng 9% khí thải thủy ngân trong khí quyển hàng năm (Weir, 2002).
Hơn nữa, ít nhất 3% lượng phát thải thuỷ ngân do con người toàn cầu bắt nguồn từ quá trình đốt rác 7 c thải (Pacyna et al. Phát thải thủy ngân trong không khí mang một nguy cơ về sức khoẻ và môi trường, vì thủy ngân trong không khí có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể thông qua phổi nơi nó tích tụ trong các mô mỡ. Điều này liên quan đến việc tăng nồng độ thủy ngân trong cơ thể đã ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, bài tiết và sinh sản (Wolfe et al. Tại Việt Nam hiện có 369 lò đốt hai buồng, 127 lò đốt một buồng.
Trong đó đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao. Theo Phạm Văn Hải (2014) nghiên cứu về khí thải lò đốt rác thải y tế Del Monego 200 lắp đặt tại Tây Mỗ - Từ Liêm – Hà Nội, chất lượng khí thải được thể hiện trong bảng 2. Kết quả quan trắc khí thải lò đốt rác thải y tế Del Monego 200 lắp đặt tại Tây Mỗ - Từ Liêm – Hà Nội QCVN 02/2012- STT Thông số Đơn vị Khí thải Số lần vượt BTNMT (cột B) 1 Bụi mg/m3 115 250 2,17 2 SO2 mg/m3 300 300 3 HCl mg/m3 50 500 10 4 CO mg/m3 200 150 5 NOx mg/m3 300 400 1,33 6 Cd mg/m3 0,16 - 7 Hg mg/m3 0,5 - Theo kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ tiêu HCl vượt QCVN 02/2012 (cột B) tới 10 lần, NOx vượt 1,33 lần và Bụi vượt 2,17 lần cho phép. Đây là những loại khí độc hại, có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người.
- Môi trường nước: CTYT là loại chất thải rất nguy hiểm nếu không được xử lý tốt sẽ là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước nhất là hệ thống nước ngầm. Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến môi trường nước đó chính là nước thải từ các bệnh viện, cơ sở y tế không được xử lý mà thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung. 8 c Theo Bùi Thanh Tâm (2014): Nếu trong nước thải sinh hoạt khu vực dân cư tỉ lệ vi khuẩn gây bệnh/tổng số trực khuẩn đường ruột là 1/104 – 1/106 thì trong nước thải của khoa lây trong bệnh viện là 1/102 – 1/103, gấp 100 – 1000 lần. Người ta còn nhận thấy, trung bình trong 1 lít nước thải bệnh viện có từ 5000 - 10.000 virut gây bệnh, 10 - 15 trứng giun đũa.
Trong 1 lít nước thải bệnh viện Lao có thể có từ 106 - 109 trực khuẩn lao có sức đề kháng ở ngoại cảnh, thậm trí còn tìm thấy trực khuẩn lao ở nơi thải nước cống bệnh viện xa tới 500m. Ở trong nước, vi khuẩn thương hàn có khả năng sống tới 12 – 15 ngày, vi khuẩn tả sống được 4 – 28 ngày. Theo kết quả nghiên cứu của Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường (2014), phần lớn các bệnh viện đều để nước thải tự thấm vào đất trong phạm vi bệnh viện, gây ô nhiễm nặng nề.