MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chương trình Nông nghiệp, nông thôn, nhằm nâng cao đời sống của nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định chính trị, xã hội, phát triển hài hòa và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trường, chính sách lớn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) ban hành nghị quyết “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Nhờ vậy sau 7 năm thực hiện nghị quyết, cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp nước ta có sự thay đổi rõ nét, sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều và hoàn thiện hơn, đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu [17]. Cây chè và trồng chè đã gắn bó với lịch sử lâu đời của người Việt Nam. Ngày nay, người ta coi trà là một thức uống tao nhã và mang nét văn hóa cộng đồng cao. Uống trà cũng là một một nhu cầu, đã trở thành thói quen của nhiều người.
Chè có tác dụng chữa lành bệnh, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, tang hiệu quả lao động cho con người. Đặc biệt chè còn là loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Trong những năm qua, cây chè đã khẳng định vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Chè không những là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước mà còn là loại cây trồng mang lại thu nhập ổn định cho người sản xuất chè.
Chè (trà) là thức uống ngày càng được ưa chuộng trên thế giới vì các giá trị dinh dưỡng có trong thành phần của búp chè (như là amino acid, vitamin, alkaloid và polysaccharide…) được nghiên cứu là có lợi cho sức h 2 khỏe. Trà còn được coi là thực phẩm chức năng có tác dụng giảm cholesterol, chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư, hỗ trợ giảm cân… Được thiên nhiên ưa đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên được biết đến là vùng trồng chè trong điểm của Miền Bắc. Chè Thái Nguyên đặc biệt là chè Tân Cương là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Toàn tỉnh hiên có 19.100 ha chè, trong đó gần 17.300 ha chè trong giai đoạn kinh doanh, đứng thứ 2 trên cả nước, với 29 doanh nghiệp, 30 HTX, 50 làng nghề và hàng trăm tổ hợp tác sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè với trên 60 ngàn hộ nông dân trồng chè.
Chè Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong nước và nước ngoài. Trong đó thị trường nội địa chiếm 70% với sản phẩm là chè xanh, chè xanh đặc sản. Cây chè được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây trồng chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường. Thu nhập từ cây chè cao hơn cây trồng khác, do đó được coi là cây xóa đói giảm nghèo thậm chí còn là cây làm giàu của người nông dân ở một số địa phương của tỉnh.
Tuy nhiên sản xuất chè hiện nay đang có những bất cập. Đó là, do nhận thức không đầy đủ, người sản xuất chè đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Chính điều đó không những không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một dư lượng lớn các chất hóa học tồn dư trong đất; nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè ở quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè với chất lượng ngày một cao.chè với chất lượng ngày một cao.
Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá quan điểm của nông hộ về sản xuất chè hữu cơ xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên" để nghiên cứu với hy vọng góp phần vào việc thực hiện thành công đề án tái cơ cấu nông nghiệp của xã. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá quan điểm của nông hộ về sản xuất chè hữu cơ và đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Lu Mục tiêu cụ thểng Hỷ, tỉnh Tchè hMục t cè hMục tiêu cụ thểng Hỷ, tỉnh Thái Ngu - Xác đ - Đánh giá đưHỷ, tỉnh Thái NguyviXác đ - Đánh giá đưHỷ, t hXác đ - Đ hXác đ trên đ - Đánh giá đưHỷ - Đánh giá được quan điểm của nông hộ về sản xuất và hiệu quả kinh tế cây chè hữu cơ trên địa bàn xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây chè hữu cơ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học Đề tài là thông tin cơ sở về quan điểm của nông hộ về sản xuất và hiệu quả thu được từ trồng chè hữu cơ trên địa bàn. Luận văn nghiên cứu thành công sẽ là công trình khoa học dùng để tham khảo cho lãnh đạo huyện, các sở, ban ngành thuộc tỉnh trong công tác phát triển cây chè hữu cơ nhằm xóa đói giảm nghèo tại địa phương.
Ý nghĩa thực tiễn Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp những kinh nghiệm, những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu từ các tài liệu của các tác giả khác nhau, đặc biệt nhờ sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học, đề tài có ý nghĩa sau: - Đánh giá được quan điểm của nông hộ về sản xuất chè hữu cơ và hiệu h 4 quả kinh tế cây chè hữu cơ trên địa bàn xã trong giai đoạn 2015 - 2017. Qua việc sử dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu về hiệu quả kinh tế cây chè để minh họa về những kết quả đạt được cũng như hạn chế của hoạt động phát triển cây chè hữu cơ trên địa bàn xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế cây chè hữu cơ với mục tiêu đưa cây chè hữu cơ vào công tác xóa đói giảm nghèo, ngoài ra đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của địa phương. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các đề tài, dự án phát triển mô hình sản xuất chè hữu cơ tại địa phương khác.
h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Lịch sử cây chè tại Việt Nam 2. cây chè tại Việt Nam m Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc. Cây chè Suối Giàng trong sách "Vân Đài loại ngữ" [Lê Quý Đôn, 1773] có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: ".
Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên. Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ. “Hàng ngày, những đoàn thồ lớn 100- 200 con lừa chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về.
Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả".
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang, Việt Nam (1923) và Tây Nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết".những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên h 6 bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở VânNam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An. Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam. Từ đó, có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới như sau "Chi Camelli → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc →Chè Assam (Ấn Độ)".
Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Cây chè xuất hiện đầu tiên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 950 đến 1200 Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 290 đến 110 Bắc. Sự phát triển của cây Chè Việt Nam Thời kỳ trước năm 1882: Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè đồng bằng sông Hồng ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An. Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà. Thời kỳ 1882 - 1945: Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc.
Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại. Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền.