Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ hóa học với đề tài "Nghiên cứu đánh giá tình trạng phơi nhiễm asen của bà mẹ, trẻ em tại tỉnh Hà Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Bích Thủy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Phạm Hùng Việt và PGS. TS. Nguyễn Khắc Hải (chuyên ngành Hóa môi trường, mã số: 62440120, bảo vệ năm 2017).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Asen là nguyên tố tồn tại tự nhiên trong vỏ trái đất với hàm lượng trung bình khoảng 2 mg/kg. Ở quy mô toàn cầu, ước tính có khoảng 150 triệu người có nguy cơ phơi nhiễm với asen thông qua nguồn nước ăn uống và sinh hoạt. Tại Việt Nam, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai khu vực chịu ảnh hưởng ô nhiễm asen trong nước ngầm nặng nề nhất; theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), có hơn 10 triệu người dân trong nước đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm asen từ nguồn nước ngầm.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: phần lớn các công trình trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát mức độ ô nhiễm asen trong môi trường nước ngầm hoặc đánh giá các biểu hiện triệu chứng lâm sàng bên ngoài ở giai đoạn muộn trên các đối tượng đại trà chung. Hoàn toàn thiếu vắng các công trình đánh giá chuyên sâu về tích lũy sinh học, con đường chuyển hóa và mức độ thâm nhiễm asen trên nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, bà mẹ mang thai, trẻ sơ sinh và trẻ em. Đặc biệt, chưa có dữ liệu định lượng đầy đủ về sự truyền asen từ người mẹ sang thai nhi thông qua máu cuống rốn và tóc trẻ sơ sinh, cũng như mối liên hệ giữa phơi nhiễm asen với bệnh lý thai sản và sự phát triển thần kinh - hành vi của trẻ em tại các vùng điểm nóng ô nhiễm.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tình trạng phơi nhiễm và thâm nhiễm asen của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, bà mẹ mang thai tại Hà Nam;
- Đánh giá tình trạng thâm nhiễm asen trước sinh của trẻ sơ sinh;
- Đánh giá tình trạng bệnh lý thai sản của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, sự biến đổi thần kinh hành vi ở trẻ em liên quan đến phơi nhiễm asen.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Nguồn nước giếng khoan dùng cho ăn uống và sinh hoạt của các hộ gia đình.
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (18–49 tuổi) đang mang thai hoặc đã từng mang thai ít nhất một lần tính đến thời điểm nghiên cứu.
- Bà mẹ đang mang thai (20–40 tuổi) và trẻ sơ sinh là con của các bà mẹ này.
- Trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi (sinh từ năm 1998 đến năm 2006) là con của nhóm phụ nữ được xét nghiệm tóc.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Hà Nam – một trong những tâm điểm ô nhiễm asen trong nước ngầm tại đồng bằng sông Hồng. Địa bàn chọn mẫu gồm 5 xã thuộc nhóm nghiên cứu có nguồn nước giếng khoan ô nhiễm asen cao (> 50 µg/L): xã Công Lý, Chính Lý, Văn Lý (huyện Lý Nhân), xã Nhật Tân, Hoàng Tây (huyện Kim Bảng); và 4 xã thuộc nhóm đối chứng có nguồn nước không bị ô nhiễm (nồng độ asen ≤ 50 µg/L): xã Thi Sơn, Ngọc Sơn, Ba Sao, Khả Phong (huyện Kim Bảng).
- Phạm vi thời gian: Các đợt điều tra thực địa, lấy mẫu và xét nghiệm được triển khai trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế và trong nước
Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học về tình hình ô nhiễm, độc học và tác động sức khỏe của asen:
Về hiện trạng ô nhiễm nước ngầm toàn cầu và khu vực: Dữ liệu của WHO (2001) ghi nhận ô nhiễm asen xuất hiện tại nhiều quốc gia như Bangladesh (Noakhali: >1–4730 µg/L), Ấn Độ (Tây Bengal: 10–3200 µg/L), Trung Quốc (50–4440 µg/L), Campuchia (Đồng bằng sông Mê Kông: 1–1610 µg/L), Thái Lan (Ron Phibun: 1–5000 µg/L), Hoa Kỳ (Hồ Tulare: tới 2600 µg/L), Chile, Mexico, Argentina và Việt Nam (<1–3050 µg/L).
Bảng: Nồng độ asen trong nước ngầm tại một số quốc gia theo tổng hợp của WHO (2001)
| STT |
Quốc gia |
Khu vực nghiên cứu |
Hàm lượng As trong nước ngầm (µg/L) |
Giới hạn cho phép (µg/L) |
| 1 |
Afghanistan |
Ghazni |
10 – 500 |
10 (WHO) |
| 2 |
Bangladesh |
Noakhali |
>1 – 4730 |
50 (WHO) |
| 3 |
Campuchia |
Đồng bằng sông Mê Kông |
1 – 1610 |
10 (WHO) |
| 4 |
Trung Quốc |
- |
50 – 4440 |
50 (WHO) |
| 5 |
Ấn Độ |
Tây Bengal |
10 – 3200 |
50 (WHO) |
| 6 |
Thái Lan |
Ron Phibun |
1 – 5000 |
10 (WHO) |
| 7 |
Hoa Kỳ |
Hồ Tulare |
Tới 2600 |
10 (EPA) |
| 8 |
Việt Nam |
ĐB sông Hồng, sông Cửu Long |
<1 – 3050 |
10 (WHO) |
Về ô nhiễm nước ngầm tại miền Bắc Việt Nam:
- Điều tra của UNICEF (2005–2009) trên gần 100.000 giếng khoan tại 17 tỉnh đồng bằng chỉ ra các tỉnh lưu vực sông Hồng (Hà Nam, Nam Định, Hà Tây cũ, Hưng Yên, Vĩnh Phúc) có mức nhiễm asen rất cao do cấu trúc trầm tích địa chất.
- Số liệu từ Đề tài cấp Nhà nước KC.06/06-10 (2009) khảo sát 1.500 giếng tại 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng cho thấy 77,6% số giếng có hàm lượng asen > 50 µg/L và 49,7% số giếng > 100 µg/L. Riêng Hà Nam có 469 giếng được khảo sát với 66,7% số giếng nằm trong khoảng 101–250 µg/L và 7,8% số giếng > 250 µg/L.
- Lê Ngọc Cát (2004) phân tích 56 mẫu nước tại các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Kim Bảng, Duy Tiên (Hà Nam), ghi nhận 92% số mẫu vượt tiêu chuẩn từ 10 đến 70 lần.
- Agusa và cộng sự (2010) ghi nhận hàm lượng asen trong nước ngầm miền Bắc dao động từ < 0,1 đến 502 µg/L, trong đó 100% mẫu tại xã Hòa Hậu (Hà Nam) và xã Cát Quế (Hà Tây cũ) vượt ngưỡng 10 µg/L của WHO.
Về tác động đối với sức khỏe phụ nữ sinh đẻ và trẻ em:
- Nguyễn Kinh Quốc và Đào Ngọc Phong (1990) phát hiện 31 triệu chứng nhiễm độc mạn tính tại bản Phúng.
- Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường (2003, 2004–2005) nghiên cứu tại 3 xã Hòa Hậu, Vĩnh Trụ, Bồ Đề (Hà Nam) và mở rộng ra 7 xã tại Hà Nam, Hưng Yên, ghi nhận tỷ lệ mẫu tóc (44%) và nước tiểu (16%) vượt giới hạn sinh học, đồng thời phát hiện sớm 8 ca tổn thương da và sự gia tăng tỷ lệ bệnh lý thai sản.
- Phạm Thị Kim Trang và cộng sự chỉ ra mối liên quan giữa hàm lượng asen trong tóc vượt ngưỡng sinh học với tần suất triệu chứng bệnh.
- Trần Thị Khuyên và cộng sự ghi nhận tỷ lệ asen niệu > 0,08 mg/L tại Hà Nam đạt 98,2%, gắn liền với các triệu chứng đau bụng, sẩn ngứa, cảm giác kiến bò, tê lạnh đầu chi, sạm da.
- Nghiên cứu quốc tế: Chowdhury và cộng sự (2000) tại Ấn Độ và Bangladesh; Siripitaykunkit và cộng sự tại Ronpiboon (Thái Lan) về suy giảm chỉ số thông minh (IQ); các nghiên cứu tại San Luis Potosi (Mexico), Chile, Đài Loan, Hungary và Massachusetts (Hoa Kỳ) về sảy thai, thai lưu, sinh non và suy giảm cân nặng sơ sinh.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa các kết quả nghiên cứu địa bàn của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, luận án của NCS. Nguyễn Bích Thủy là công trình đầu tiên tại Việt Nam thiết lập một quy trình đánh giá đồng bộ chuỗi mắt xích: Nồng độ ô nhiễm môi trường nước $\rightarrow$ Mức độ tích lũy sinh học ở người mẹ (nước tiểu, tóc) $\rightarrow$ Mức độ thâm nhiễm qua hàng rào nhau thai sang thai nhi trước sinh (máu cuống rốn, tóc trẻ sơ sinh) $\rightarrow$ Tỷ lệ mắc bệnh lý thai sản $\rightarrow$ Tình trạng phát triển tâm thần, trí nhớ, rối loạn tăng động và hành vi của trẻ em.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và chuyển hóa sinh hóa của asen
Asen tồn tại ở 4 dạng thù hình (kim loại xám bạc, vàng, xám, nâu) và 4 trạng thái oxy hóa (-3, 0, +3, +5). Trong môi trường nước tự nhiên, asen chủ yếu ở dạng vô cơ As(III) (arsenite: $\text{H}_3\text{AsO}_3, \text{AsO}_3^{3-}$) và As(V) (arsenate: $\text{H}_2\text{AsO}_4^-, \text{HAsO}_4^{2-}, \text{AsO}_4^{3-}$). Quá trình giải phóng asen tự nhiên vào nước ngầm xảy ra qua cơ chế khử hòa tan oxy hydroxit sắt:
$$4\text{FeOOH} + \text{CH}_2\text{O} + 7\text{H}_2\text{CO}_3 \xrightarrow{\text{Vi sinh}} 4\text{Fe}^{2+} + 8\text{HCO}_3^- + 6\text{H}_2\text{O}$$
Cơ chế độc học và chuyển hóa sinh học:
- Hấp thụ và phân bố: Asen vô cơ hấp thụ qua đường tiêu hóa vào máu tới 90%, nhanh chóng phân bố vào các tổ chức mô (gan, thận, bàng quang) và qua được hàng rào nhau thai sang thai nhi.
- Chuyển hóa methyl hóa: Xảy ra chủ yếu tại gan nhờ enzyme AS3MT với chất cho methyl là S-adenosylmethionine (SAM) và chất khử trung gian là glutathione (GSH). As(V) bị khử thành As(III), tiếp tục methyl hóa thành acid monomethylarsonous ($\text{MMA}^{\text{III}}$), monomethylarsenic ($\text{MMA}^{\text{V}}$), acid dimethylarsinous ($\text{DMA}^{\text{III}}$) và dimethylarsenic ($\text{DMA}^{\text{V}}$). Dạng $\text{MMA}^{\text{III}}$ và $\text{DMA}^{\text{III}}$ được chứng minh có độc tính tế bào và độc tính gen cao hơn nhiều so với asen vô cơ ban đầu.
- Cơ chế gây độc: Can thiệp phản ứng phosphoryl hóa (thay thế phosphate trong tổng hợp ATP và glucose-6-phosphate), ức chế sửa chữa DNA, gây đứt gãy chuỗi đơn DNA, sinh các gốc oxy hóa hoạt tính (ROS: superoxide, hydroxyl) gây peroxy hóa lipid màng tế bào và suy giảm nồng độ oxit nitric (NO).
Thiết kế nghiên cứu và quy mô mẫu
Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích so sánh, kết hợp điều tra dịch tễ học thực địa.
Bảng: Tổng hợp đối tượng, chỉ số và cỡ mẫu nghiên cứu của luận án
| STT |
Nhóm đối tượng |
Số lượng người |
Chỉ số nghiên cứu |
Số lượng mẫu |
Ghi chú kỹ thuật |
| 1 |
Phụ nữ tuổi sinh đẻ (18–49) |
2.123 |
|
|
|
| 1.1 |
Nhóm nghiên cứu |
1.061 |
- Điều tra KAP, thói quen dùng nước - Nồng độ As trong nước giếng - Bệnh lý thai sản hồi cứu - Hàm lượng As trong tóc |
2.123 phiếu 2.123 mẫu nước 2.013 phiếu 703 mẫu tóc (350 NC, 353 ĐC) |
Nước giếng > 50 µg/L; lấy tóc đối tượng dùng nước > 5 năm, có con 6–14 tuổi |
| 1.2 |
Nhóm đối chứng |
1.062 |
|
|
Nước giếng ≤ 50 µg/L |
| 2 |
Bà mẹ mang thai và trẻ sơ sinh |
150 cặp |
|
|
|
| 2.1 |
Nhóm nghiên cứu |
100 cặp |
- Nồng độ As trong nước giếng - Hàm lượng As tổng và thành phần trong nước tiểu mẹ - Hàm lượng As trong tóc mẹ - Hàm lượng As trong máu cuống rốn - Hàm lượng As trong tóc con |
150 mẫu nước 150 mẫu nước tiểu 150 mẫu tóc mẹ 150 mẫu máu cuống rốn 150 mẫu tóc con |
Chia 2 phân nhóm: thâm nhiễm trung bình và cao theo trung vị As niệu mẹ |
| 2.2 |
Nhóm đối chứng |
50 cặp |
|
|
Tiêu chuẩn As niệu ≤ 60 µg/L, nước ăn uống ≤ 10 µg/L |
| 3 |
Trẻ em (6–14 tuổi) |
462 trẻ |
|
|
|
| 3.1 |
Nhóm nghiên cứu |
224 trẻ |
- Bảng kiểm hành vi DBC-P (96 mục) - Thang đo tăng động giảm chú ý Vanderbilt - Thử nghiệm trí nhớ |
462 bảng kiểm |
Con của các bà mẹ đã phân tích tóc |
| 3.2 |
Nhóm đối chứng |
238 trẻ |
|
|
|
Kỹ thuật phân tích và công cụ thu thập dữ liệu
- Thiết bị phân tích hóa học: Hệ thống quang phổ khối cao tần cảm ứng (ICP-MS) Agilent 7500a; hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp ICP-MS (HPLC-ICPMS) để tách và định lượng các dạng asen thành phần ($\text{As}^{\text{III}}, \text{As}^{\text{V}}, \text{MMA}, \text{DMA}, \text{AB}$); quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và huỳnh quang nguyên tử hydrua hóa (HG-AFS).
- Quy trình sinh học: Lấy máu cuống rốn ngay sau sinh, thu thập mẫu tóc sát chân tóc vùng gáy, lấy nước tiểu buổi sáng; bảo quản và phân hủy mẫu bằng acid tinh khiết cao.
- Công cụ dịch tễ và tâm thần kinh: Phiếu phỏng vấn dịch tễ học và bệnh lý thai sản do bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương thiết kế; Bảng kiểm hành vi phát triển trẻ em DBC-P (Development Behaviour Checklist – Parent) gồm 96 mục đánh giá 3 mức độ (0: không có, 1: thỉnh thoảng, 2: thường xuyên); Thang đo Vanderbilt đánh giá rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD); các bài kiểm tra trắc nghiệm trí nhớ.
- Xử lý số liệu và kiểm soát sai số: Sử dụng các đại lượng thống kê: trung bình (TB), độ lệch chuẩn (SD), tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (CI), áp dụng kiểm định thống kê y sinh học và quy trình đạo đức nghiên cứu y sinh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 tổng hợp toàn diện cơ sở lý thuyết hóa học và y sinh học về asen:
- Làm rõ nguồn gốc phát thải tự nhiên và nhân sinh, cơ chế hòa tan giải phóng asen từ khoáng vật arsenopyrite ($\text{FeAsS}$) và trầm tích sắt trong môi trường khử yếm khí của nước ngầm tầng nông đồng bằng Bắc Bộ.
- Trình bày chi tiết độc tính cấp tính (rối loạn tiêu hóa cấp, suy tuần hoàn) và mạn tính (tổn thương sừng hóa da, biến đổi sắc tố đen/trắng, tổn thương vân Mees ở móng, viêm dây thần kinh ngoại vi cảm giác - vận động, xơ gan, ung thư da, phổi, bàng quang).
- Phân tích cơ chế chuyển hóa sinh học: làm rõ vai trò của glutathione và enzyme AS3MT trong mô hình chuyển hóa kinh điển lẫn mô hình biến đổi sinh học mới hình thành phức triglutathione asen; phân tích khả năng asen vượt qua hàng rào máu - nhau thai để tích lũy trực tiếp vào mô thai nhi.
- Điểm luận các công trình dịch tễ quốc tế và Việt Nam, khẳng định sự thiếu hụt các nghiên cứu định lượng về chỉ dấu sinh học thâm nhiễm trước sinh và tác động tâm thần kinh ở trẻ em.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận thực nghiệm và thiết kế dịch tễ học:
- Xây dựng tiêu chí lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại các xã ô nhiễm cao (> 50 µg/L) và xã đối chứng (≤ 50 µg/L) thuộc hai huyện Lý Nhân và Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Thiết lập công thức tính cỡ mẫu cắt ngang dịch tễ với độ tin cậy 95% ($\alpha = 0,05$, $Z = 1,96$, $p = 0,33$, sai số $d = 0,034$), xác định cỡ mẫu đại diện 2.123 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
- Chuẩn hóa quy trình lấy mẫu nước giếng khoan, mẫu tóc mẹ, mẫu tóc con, mẫu nước tiểu và mẫu máu cuống rốn sơ sinh; quy định nghiêm ngặt phương pháp làm sạch mẫu tóc, quy trình phá mẫu bằng vi sóng và thiết lập đường chuẩn phân tích trên thiết bị ICP-MS Agilent 7500a.
- Chuẩn hóa các công cụ tâm lý học lâm sàng (DBC-P, thang đo Vanderbilt, bài test trí nhớ) và xây dựng quy trình khống chế sai số, bảo đảm đạo đức nghiên cứu y sinh học đối với đối tượng phụ nữ mang thai và trẻ em.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và phân tích thống kê theo các nhóm nội dung chính:
- Hiện trạng phơi nhiễm qua nguồn nước: Phân tích thực trạng nồng độ asen trong nước giếng khoan trước và sau khi lọc cát đơn giản tại các hộ gia đình; thói quen, mục đích và thời gian sử dụng nguồn nước giếng khoan trong ăn uống, sinh hoạt của phụ nữ và bà mẹ mang thai.
- Tích lũy sinh học ở phụ nữ và bà mẹ mang thai: Xác định hàm lượng asen tổng số trong tóc và nước tiểu; xác định tỷ lệ các dạng asen thành phần ($\text{As}^{\text{III}}, \text{As}^{\text{V}}, \text{MMA}, \text{DMA}$) trong nước tiểu bằng HPLC-ICPMS; chứng minh mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ asen trong nước sinh hoạt với hàm lượng asen tích lũy trong tóc và nước tiểu mẹ.
- Thâm nhiễm asen trước sinh ở trẻ sơ sinh: Định lượng trực tiếp hàm lượng asen trong máu cuống rốn và mẫu tóc của 150 trẻ sơ sinh; so sánh sự phân bố nồng độ asen máu cuống rốn và tóc trẻ sơ sinh theo từng mức độ phơi nhiễm (asen niệu và asen tóc) của người mẹ ở nhóm nghiên cứu và nhóm chứng; xác nhận sự thâm nhiễm trực tiếp của asen từ mẹ qua nhau thai.
- Ảnh hưởng đến bệnh lý thai sản: Phân tích tỷ lệ phần trăm các tai biến sản khoa (sảy thai, thai lưu, sinh non, dị tật bẩm sinh, nhiễm độc thai nghén) phân bố theo các mức độ nồng độ asen trong nước giếng và hàm lượng asen trong tóc mẹ; xác định tỷ suất chênh OR giữa nhóm phơi nhiễm và nhóm chứng.
- Ảnh hưởng đến thần kinh - hành vi và trí nhớ của trẻ em: Đánh giá điểm số phát triển hành vi qua bảng DBC-P, tỷ lệ các biểu hiện rối loạn hành vi ở mức độ "thỉnh thoảng" và "thường xuyên"; kết quả đánh giá tăng động giảm chú ý theo thang Vanderbilt và kết quả thử nghiệm suy giảm trí nhớ ở 462 trẻ em 6–14 tuổi; chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa hàm lượng asen trong tóc mẹ với các biến đổi bất thường về thần kinh - hành vi ở trẻ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn
- Quy mô và tính hệ thống: Đây là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về tình trạng phơi nhiễm và thâm nhiễm asen ở cặp mẹ con với quy mô mẫu lớn (2.123 phụ nữ sinh đẻ, 703 mẫu tóc mẹ, 150 cặp mẹ con phân tích mẫu sinh học chuyên sâu và 462 trẻ em đánh giá tâm thần kinh).
- Cung cấp bằng chứng thâm nhiễm trước sinh: Lần đầu tiên tại Việt Nam, luận án cung cấp bộ số liệu định lượng về hàm lượng asen trong máu cuống rốn và tóc của trẻ sơ sinh, chứng minh rõ ràng cơ chế thâm nhiễm asen từ mẹ truyền sang con qua hàng rào nhau thai trong giai đoạn bào thai tại khu vực ô nhiễm nước ngầm.
- Mối liên hệ bệnh lý thai sản và độc tính phát triển: Xác lập bằng chứng dịch tễ học và hóa sinh vững chắc về mối tương quan giữa mức độ tích lũy asen trong cơ thể mẹ với nguy cơ gia tăng các bệnh lý thai sản bất lợi, cũng như các biến đổi suy giảm trí nhớ, rối loạn cảm xúc, tăng động và hành vi ở trẻ em từ 6 đến 14 tuổi.
- Cơ sở dữ liệu cho độc học phân tử: Cung cấp dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác phục vụ cho các nghiên cứu tiếp nối về cơ chế gây độc ở mức phân tử, độc tính gen và đa hình chuyển hóa asen.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ngành y tế dự phòng và chính quyền địa phương cần đưa các chỉ dấu sinh học (asen tóc, asen niệu) vào quy trình giám sát y tế định kỳ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và phụ nữ mang thai tại các vùng có nguy cơ ô nhiễm asen cao.
- Khuyến cáo người dân dừng sử dụng trực tiếp nước giếng khoan chưa qua xử lý triệt để cho mục đích ăn uống; đẩy mạnh các hệ thống cấp nước sạch tập trung đạt chuẩn QCVN.
- Tăng cường tầm soát sớm các rối loạn phát triển thần kinh - hành vi ở trẻ em sinh sống tại các điểm nóng ô nhiễm asen để có can thiệp tâm lý và y khoa kịp thời.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phỏng vấn dịch tễ học hồi cứu, do đó việc theo dõi diễn tiến sức khỏe dài hạn của trẻ từ lúc sơ sinh đến tuổi trưởng thành còn bị giới hạn bởi yếu tố thời gian nghiên cứu (2012–2014); địa bàn nghiên cứu tập trung trọng điểm tại tỉnh Hà Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các nghiên cứu thuần tập tiến cứu (prospective cohort study) theo dõi dọc sự phát triển thể chất, nhận thức và chỉ số IQ của trẻ em phơi nhiễm asen trước sinh cho đến các giai đoạn phát triển tiếp theo.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế độc học phân tử, đặc biệt là mối liên quan giữa các biến dị di truyền của enzyme methyltransferase (AS3MT) với khả năng chuyển hóa và mức độ nhạy cảm của từng cá thể đối với asen.
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các vùng địa chất có nguy cơ khác thuộc lưu vực sông Mê Kông.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo giá trị thuộc các chuyên ngành Hóa môi trường, Độc học môi trường, Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Dịch tễ học và Sản - Nhi; cung cấp khung phương pháp luận kết hợp chặt chẽ giữa phân tích hóa học lượng vết (ICP-MS, HPLC-ICPMS) và dịch tễ học sức khỏe cộng đồng.
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan quản lý tại địa phương xây dựng tiêu chuẩn môi trường, thiết lập chính sách bảo vệ nhóm đối tượng nhạy cảm (bà mẹ mang thai, trẻ sơ sinh) và định hướng các chương trình can thiệp nước sạch nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu nào tại tỉnh Hà Nam và dựa trên tiêu chí nào?
Luận án lựa chọn có chủ đích 5 xã thuộc nhóm nghiên cứu có nguồn nước giếng khoan ô nhiễm asen cao (> 50 µg/L) gồm: Công Lý, Chính Lý, Văn Lý (huyện Lý Nhân), Nhật Tân, Hoàng Tây (huyện Kim Bảng); và 4 xã thuộc nhóm đối chứng có nguồn nước không bị ô nhiễm (≤ 50 µg/L) gồm: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Ba Sao, Khả Phong (huyện Kim Bảng). Việc lựa chọn này kế thừa từ các công trình điều tra môi trường trước đó của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường nhằm so sánh đối chứng rõ rệt giữa hai vùng phơi nhiễm và không phơi nhiễm.
2. Các kỹ thuật và thiết bị phân tích hóa học nào được sử dụng để xác định hàm lượng asen trong các mẫu?
Tác giả sử dụng hệ thống quang phổ khối cao tần cảm ứng (ICP-MS) Agilent 7500a để định lượng asen tổng số trong mẫu nước giếng khoan, mẫu tóc mẹ, mẫu tóc con, mẫu nước tiểu mẹ và mẫu máu cuống rốn trẻ sơ sinh. Đồng thời, kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ cảm ứng cao tần (HPLC-ICPMS) được sử dụng để tách và phân tích các dạng hợp phần asen vô cơ và hữu cơ ($\text{As}^{\text{III}}, \text{As}^{\text{V}}, \text{MMA}, \text{DMA}$).
3. Luận án chứng minh sự thâm nhiễm asen trước sinh từ mẹ sang con bằng những chỉ dấu sinh học nào?
Sự thâm nhiễm trước sinh được chứng minh thông qua việc phân tích và phát hiện trực tiếp hàm lượng asen tích lũy trong 150 mẫu máu cuống rốn và 150 mẫu tóc của trẻ sơ sinh ngay khi chào đời. Kết quả cho thấy hàm lượng asen trong máu cuống rốn và tóc trẻ sơ sinh tỷ lệ thuận với mức độ phơi nhiễm asen trong nước tiểu và tóc của người mẹ.
4. Tác động của phơi nhiễm asen lên thần kinh - hành vi của trẻ em được đánh giá qua những công cụ nào?
Nghiên cứu sử dụng 3 công cụ chuẩn hóa trên 462 trẻ em từ 6 đến 14 tuổi:
- Bảng liệt kê hành vi phát triển trẻ em (DBC-P - Development Behaviour Checklist – Parent) gồm 96 mục đánh giá các rối loạn hành vi và cảm xúc;
- Thang đo Vanderbilt đánh giá chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD);
- Các bài trắc nghiệm thử nghiệm trí nhớ chuyên biệt dành cho trẻ em.
5. Cơ chế chuyển hóa sinh hóa chính của asen vô cơ trong cơ thể người được luận án trình bày như thế nào?
Asen vô cơ $\text{As}^{\text{V}}$ sau khi hấp thụ vào cơ thể được khử thành $\text{As}^{\text{III}}$ nhờ chất khử glutathione (GSH). Sau đó, $\text{As}^{\text{III}}$ trải qua chuỗi phản ứng methyl hóa tuần hoàn tại gan dưới sự xúc tác của enzyme AS3MT và chất đồng tạo nền S-adenosylmethionine (SAM) để tạo thành các chất trung gian và sản phẩm đào thải: $\text{MMA}^{\text{V}} \rightarrow \text{MMA}^{\text{III}} \rightarrow \text{DMA}^{\text{V}} \rightarrow \text{DMA}^{\text{III}}$, trong đó các sản phẩm hóa trị ba ($\text{MMA}^{\text{III}}, \text{DMA}^{\text{III}}$) có độc tính tế bào rất cao trước khi được bài tiết qua nước tiểu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Bích Thủy là một công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu, liên ngành giữa Hóa môi trường và Sức khỏe cộng đồng, giải quyết trọn vẹn vấn đề đánh giá phơi nhiễm asen trên đối tượng phụ nữ sinh đẻ, bà mẹ mang thai và trẻ em tại điểm nóng ô nhiễm tỉnh Hà Nam. Bằng việc kết hợp kỹ thuật phân tích hóa học hiện đại ICP-MS, HPLC-ICPMS với các phương pháp điều tra dịch tễ và tâm thần kinh chuẩn hóa, luận án đã cung cấp bằng chứng định lượng đầu tiên tại Việt Nam về sự thâm nhiễm asen trước sinh qua hàng rào nhau thai cũng như các hệ lụy đối với bệnh lý thai sản và phát triển thần kinh - hành vi ở trẻ. Kết quả luận án đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy cho công tác độc học môi trường, đồng thời hỗ trợ thiết thực cho việc xây dựng các chính sách y tế dự phòng và can thiệp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.