CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một sổ khái niệm - Điều dưỡng’. Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về điều dưỡng, cho đến nay chưa có sự thống nhất về một định nghĩa chung, dưới đây là một số định nghĩa được đa số các nước công nhận. Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ, phục hồi người bệnh (Florent Nightingale, 1860) [15].
Điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe hoặc cho cái chết được thanh thản. Giúp đỡ mọi người sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt (Viginia Handerson,1960)[15]. Điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị để đáp ứng những vấn đề bất thường liên quan đến sức khỏe con người (Hội điều dưỡng Mỹ, 1995). Cho đến nay định nghĩa này được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới [15] Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ thì: Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [4].
- Đào tạo liên tục: Là các khóa đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận, đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia. 5 - Nhiệm vụ của y tế xã, phường, thị trân (gọi chung là y tê cơ sở): Lập kê hoạch các mặt hoạt động và lựa chọn chương trình ưu tiên về chuyên môn y tế trình ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn duyệt, báo cáo trung tâm y tế huyện, quận, thị xã và tổ chức triển khai thực hiện sau khi kế hoạch đã được phê duyệt; Phát hiện báo cáo kịp thời các bệnh dịch lên tuyến trên và giúp chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp về công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch, giữ vệ sinh những nơi công cộng và đường làng,xã, tuyên truyền ý thức bảo vệ sức khỏe cho mọi đối tượng tại cộng đồng; tuyên truyền vận động, triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn về bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và kể hoạch hóa gia đình, bảo đảm việc quản lý thai, khám thai và đỡ đẻ thường cho sản phụ; tổ chức sơ cứu ban đầu, khám chữa bệnh thong thường chon nhân dân tại trạm y tế và mở rộng dần việc quản lý sức khỏe tại hộ gia đình; tổ chức khám sức khỏe và quản lý sức khỏe cho các đối tượng trong khu vực mình phụ trách, tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự; Xây dựng vốn tủ thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và họp lý, có kế hoạch quản lý các nguồn thuốc. Xây dựng phát triển thuốc nam, kết hợp ứng dụng y học dân tộc trong phòng và chữa bệnh; Quản lý các chỉ số sức khỏe và tổng họp báo cáo, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác lên tuyến trên theo quy định thuộc đơn vị mình phụ trách;Bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế thôn, làng, ấp, bản và nhân viên y tế cộng đồng; Tham mưu cho chính quyền xã, phường, thị trấn và Giám đốc Trung tâm y tế huyện chỉ đạo thực hiện các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu và tổ chức thực hiện những nội dung chuyên môn thuộc các chương trình trọng điểm về y tế tại địa phương; Phát hiện báo cáo ủy ban nhân dân xã và cơ quan y tế cấp trên các hành vi hoạt động y tế phạm pháp trên đại bàn để kịp thời ngăn chặn và xử lý; Kết họp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, các ngành trong xã, để tuyên truyền và cùng tổ chức thực hiện các nội dung công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân[22]. - Nhu cầu đào tạo: Nhu cầu đào tạo không phải chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người cán bộ y tế mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân sử dụng nguồn nhân lực y tế.
Nếu một đơn vị y tế chỉ trông chờ 6 vào trình độ chuyên môn hiện có của đội ngũ nhân viên mà không có kế hoạch và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng liên tục nguồn nhân lực của mình thì khó có thể phát triển được đơn vị, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân[20]. - Xác định nhu cầu đào tạo: Xác định nhu càu đào tạo nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng cán bộ y tế cần được đào tạo và kiểu đào tạo nào sẽ giúp giải quyết được các vấn đề sức khoẻ của cộng đồng. Xác định nhu cầu đào tạo là bước đầu tiên trong quy trình đào tạo, nó được tiến hành trước khi lập kế hoạch đào tạo [20]. Lịch sử ngành Điều dưỡng thế giói, Việt Nam 1.
Lịch sử ngành Điều dưỡng thế giới Trên thế giới, điều dưỡng là lực lượng đông nhất trong ngành y tế, do đó điều dưỡng có tiềm năng rất lớn trong sứ mệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trên toàn thế giới. Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng to lớn trong các hệ thống chăm sóc sức khoẻ, trong việc xây dựng các chính sách chăm sóc sức khoẻ, nâng cao sức khoẻ, dự phòng cũng như trong việc chăm sóc những người ốm và phục hồi chức năng.Từ thời xa xưa do chưa hiểu biết, con người tin vào thần linh, thượng đế , khi có bệnh, họ mời pháp sư đến, vừa điều trị vừa cầu kinh. Các đền miếu được xây dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị bệnh nhân. Tại đây, các pháp sư điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa giúp lễ vừa phụ giúp chăm sóc bệnh nhân từ đó hình thành mối liên kết Y khoa - Điều dưỡng và Tôn giáo .Thời kỳ viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn những người hành hương bị đau ổm có những người tham gia việc chăm sóc sức khoẻ cho tất cả mọi người.
Nghề Điều dưỡng từ đó trở thành nghề được coi trọng. Một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành Điều dưỡng đó là Florence Nightingale (1820- 1910) người phụ nữ được gọi một cách đầy kính trọng "Nữ công tước với cây đèn""Thiên thần trong bệnh vỉện"[\ 1], Florence đã lập hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành 7 lập trường đào tạo điều dưỡng đẩu tiên trên thê giới ở nước Anh vào năm 1860. Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chỉ ở Vương quốc Anh mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Đe tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence đã dày công xây dựng.
Hội đồng Điều dưỡng Thế giới đã quyết định lấy ngày 12 tháng 5 là ngày sinh của Florence Nightingale làm ngày Điều dưỡng Thế giới. Bà đã trở thành người mẹ tinh thần của ngành Điều dưỡng Thế giới. Ngày nay trên thế giới ngành điều dưỡng đã được xếp là một ngành riêng biệt ngang hàng với các ngành nghề khác và có nhiều trình độ điều dưỡng khác nhau: trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Nhiều nước trên thế giới có hệ thống điều dưỡng phát triển mạnh từ rất sớm như: Thuỵ Điển, Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Thái Lan w.
Nhiều cán bộ điều dưỡng đã có bằng tiến sĩ, thạc sĩ. và nhiều công trình khoa học mà các giáo sư, tiến sĩ hệ điều trị phải coi trọng. Nhân lực điều dưỡng được tăng cường đào tạo, bổ sung nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại các cơ sở y tế. Lịch sử ngành Điều dưỡng Việt Nam Trong lịch sử dân tộc ta, Y tế là một trong những ngành có bề dầy lịch sử lâu đời nhất; Y tế gắn liền với nền văn hiến dân tộc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trong quá trình phát triển của y học nước ta, điều dưỡng đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong ngành y tế, là một trụ cột quan trọng trong ngành y tế và ngày nay đã trở thành một ngành học với nhiều cấp đào tạo: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Trong suốt chặng đường phát triển, ngành Điều dưỡng Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm nhưng cũng nhiều vinh quang, trong bài phát biểu tại đại hội toàn quốc lần thứ V Hội điều dưỡng Việt Nam Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu đã đánh giá cao ngành điều dưỡng “ Trong những thành tích chung đó của ngành y tế, có sự đóng góp rất to lớn của đội ngũ Điều dưỡng,một nguồn nhãn lực có tiềm năng và trách nhiệm lớn trong việc thực hiện các mục tiêu của ngành y tế ” [14]. 8 Các thế hệ điều dưỡng đi trước đã kiên trì phấn đấu và từng bước đưa ngành điều dưỡng đi lên. Quá trình phát triển của ngành điều dưỡng qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc và của ngành y tế, có thể điểm qua như sau: Cũng như các nơi trên thế giới, từ thời xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc nuôi dưỡng con cái và gia đình mình.
Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc gia đình, các bà đã được truyền lại các kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh. Lịch sử nền y học của dân tộc ghi rõ phương pháp dưỡng sinh, đã được áp dụng trong việc điều trị và chăm sóc người bệnh. Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Hải Thượng - Lãn Ông Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh đã sử dụng phép dưỡng sinh để trị bệnh rất có hiệu quả. Thời kì pháp thuộc, sự có mặt của các thầy thuốc người Pháp vào cuối thế kỷ XIX đã thay thế các nhà truyền giáo và người Pháp đã bắt đầu xây dựng bệnh viện và lập hệ thống y tế để bảo vệ sức khoẻ cho Quân đội viễn chinh Pháp và kiều dân Pháp.
Năm 1901 mở lớp nam y tá đầu tiên tại Bệnh viện Chợ Quán nơi điều trị bệnh nhân tâm thần và bệnh phong. Năm 1910 mở lớp đào tạo y tá chung tại Bệnh viện Chợ Rầy. Năm 1937, Hội Chữ thập đỏ Pháp tuyển sinh lớp nữ y tá đầu tiên tại Sài Gòn.