CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý Trong những năm gần đây, BĐKH được ghi nhận với diễn biến theo xu thế phức tạp, các hiện tượng khí hậu cực đoan tiếp tục xảy ra với cường độ mạnh và tần suất cao hơn. Dự báo đến năm 2050, nếu mực nước biển dâng từ 18 đến 38 cm, tổn thất có thể lên tới 2% GDP của Việt Nam.
Trước những thách thức của BĐKH, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, chính sách, các văn bản chỉ đạo thể hiện nỗ lực và quyết tâm trong ứng phó với BĐKH (Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2022). Cụ thể: - Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI đã khẳng định việc chủ động ứng phó với BĐKH là một trong những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn và quyết định sự PTBV của đất nước; - Kết luận số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT đã đề ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, theo đó, ứng phó với BĐKH phải đặt ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển. Đồng thời, ứng phó với BĐKH cũng là nội dung quan trọng trong các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. - Luật BVMT số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020 quy định công tác quản lý nhà nước về BĐKH đã được thể chế toàn diện hơn.
Luật đã quy định nội dung và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương về thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ phát thải KNK, bảo vệ tầng ô-dôn. Quy định rõ về kiểm kê KNK, các lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK; quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch; Cơ sở dữ liệu quốc gia về BĐKH; báo cáo quốc gia ứng phó với BĐKH; thực hiện các cam kết quốc tế về BĐKH và bảo vệ tầng ô-dôn. Đặc biệt, Luật lần đầu tiên chế định về tổ chức và phát triển triển thị trường các-bon như là công cụ để thúc đẩy mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK, góp phần thực hiện những cam 6 kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế. Ngoài Luật BVMT, đã xây dựng, sửa đổi và ban hành 10 Luật có nội dung liên quan đến BĐKH.
- Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2022 quy định về giảm phát thải khí nhà kính (KNK), bảo vệ tầng ô-dôn; - Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về việc Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH; - Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 31 tháng 10 năm 2016 về việc phê duyệt Thỏa thuận Pa-ri thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH; - Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 về việc ban hành Chiến lược quốc gia về BĐKH; - Quyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 05 tháng 10 năm 2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012-2020; - Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 23 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Pa-ri về BĐKH; - Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2017 về Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020; - Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP (Quyết định số 417/QĐ-TTg); - Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật của Việt Nam (2020); - Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2020 về việc phê duyệt Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; - Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2022 về Hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với BĐKH cấp quốc gia; - Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2022 về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK (Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2022). 7 Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn phê duyệt các văn bản có liên quan đến ứng phó với BĐKH, như: Chiến lược tăng trưởng xanh; các quy hoạch vùng, lĩnh vực; các chương trình, đề án,… Tại Hội nghị COP26 tổ chức tháng 11/2021 tại Vương quốc Anh, Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050 và tham gia nhiều cam kết, sáng kiến như: Cam kết giảm phát thải mê-tan toàn cầu, Cam kết toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch, Tuyên bố Glasgow của các nhà Lãnh đạo về rừng và sử dụng đất, tham gia Sáng kiến về Liên minh Hành động thích ứng toàn cầu. Việc cam kết và tham gia các sáng kiến thể hiện quyết tâm và lộ trình rõ ràng của Việt Nam trong việc đẩy mạnh chuyển đổi kinh tế, khai thông cơ hội tận dụng sự dịch chuyển của nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải vào Việt Nam, sẵn sàng ứng phó với BĐKH nhằm góp phần giải quyết khủng hoảng khí hậu toàn cầu. Sau Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 (Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2022).
Các bộ, ngành cũng ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch, đề án liên quan đến ứng phó với BĐKH. Bộ trưởng Bộ TN&MT ban hành Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07 tháng 01 năm 2022 về việc quy định chi tiết thi hành Luật BVMT về ứng phó với BĐKH. Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cho địa phương, một số địa phương đã ban hành bản cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH (Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2022). Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Tổng quan về thực trạng giáo dục Biến đổi khí hậu Giáo dục nằm trong nhóm giải pháp thích ứng. Giáo dục BĐKH là “quá trình giáo dục sử dụng các tiếp cận sư phạm định hướng hành động, giáo dục giúp cho người dân và thế hệ trẻ nâng cao kiến thức, kĩ năng, giá trị và thái độ đối với việc giảm thiểu và thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu nhằm mục tiêu phát triển bền vững” (UNESCO, 2010). Đây được xem là một trong những biện pháp chiến lược hữu hiệu, lâu dài và quan trọng đối với cuộc chiến chống BĐKH ở bất cứ một cấp độ nào. 8 Được thành lập vào năm 2010, chương trình Giáo dục Biến đổi Khí hậu vì Sự Phát triển Bền vững (CCESD) của UNESCO nhằm mục đích giúp mọi người hiểu về BĐKH bằng cách mở rộng các hoạt động CCESD trong giáo dục không chính quy thông qua phương tiện truyền thông, mạng lưới và quan hệ đối tác.
Nó dựa trên cách tiếp cận toàn diện của Giáo dục vì sự phát triển bền vững (ESD), kết hợp các vấn đề phát triển bền vững chính như BĐKH, giảm thiểu rủi ro thiên tai và các vấn đề khác vào giáo dục, theo cách giải quyết sự phụ thuộc lẫn nhau của tính bền vững môi trường, khả năng kinh tế và công bằng xã hội. Nó thúc đẩy các phương pháp dạy và học có sự tham gia nhằm thúc đẩy và trao quyền cho người học thay đổi hành vi và hành động vì sự phát triển bền vững. Chương trình tìm cách giúp mọi người hiểu tác động của sự nóng lên toàn cầu ngày nay và tăng cường “hiểu biết về khí hậu”, đặc biệt là trong giới trẻ và nhằm mục đích làm cho giáo dục trở thành một phần trọng tâm hơn trong ứng phó quốc tế với BĐKH. UNESCO hợp tác với chính phủ các quốc gia để tích hợp CCESD vào chương trình giảng dạy quốc gia và phát triển các phương pháp dạy và học sáng tạo để thực hiện điều đó (UNESCO, 2015).
Thế giới Liên bang Úc Úc đã đi đầu trong lĩnh vực giáo dục vì sự bền vững, thông qua kế hoạch quốc gia vào năm 2000 mang tên Giáo dục Môi trường vì một Tương lai Bền vững. Một số sáng kiến và cơ quan đã được thành lập để thực hiện kế hoạch quốc gia, bao gồm Sáng kiến Trường học Bền vững Úc và Viện Nghiên cứu Môi trường và Bền vững Úc. Những điều này đã tạo nền tảng vững chắc cho chiến lược của Úc, được đưa ra vào năm 2006, nhằm hưởng ứng Thập kỷ Giáo dục vì sự Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc. Chiến lược đặt ra mục tiêu lồng ghép tính bền vững thông qua cách tiếp cận toàn diện thu hút cộng đồng thông qua giáo dục và học tập suốt đời.
Trong khi BĐKH được coi là một trong những mối quan tâm về môi trường trong kế hoạch quốc gia đầu tiên, một kế hoạch mới được đưa ra vào năm 2009, mang tên Sống bền vững. Kế hoạch hành động quốc gia về giáo dục vì sự bền vững của Chính phủ Úc, đã tập trung nhiều hơn vào BĐKH và tác động của nó đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong bối cảnh toàn cầu rộng lớn hơn. Kế hoạch mới kết hợp BĐKH trong giáo dục vì sự bền vững, thay vì thiết lập một lĩnh vực Giáo dục BĐKH mới và có khả năng cạnh tranh. Úc lần đầu tiên giới 9 thiệu chương trình giảng dạy quốc gia vào năm 2014, trong đó tính bền vững là một trong ba môn học xuyên suốt chương trình giảng dạy (UNESCO, 2015).
Trung Quốc Trung Quốc giới thiệu giáo dục môi trường vào cuối những năm 1970 do sự chú ý ngày càng tăng đối với sự phát triển bền vững và nhu cầu BVMT. Sau Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (Rio de Janeiro, 1992), giáo dục môi trường chuyển sang hướng tới môi trường, dân số và phát triển, và cuối cùng là giáo dục vì sự phát triển bền vững (UNESCO, 2015). Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số văn bản chính sách xác định giáo dục môi trường và ESD là chìa khóa dẫn đến giáo dục có chất lượng. Năm 2003, Bộ Giáo dục ban hành chính sách hướng dẫn đầu tiên - Hướng dẫn thực hiện giáo dục môi trường ở trường tiểu học và trung học - về giáo dục môi trường ở Trung Quốc.
ESD chính thức được đưa vào chính sách giáo dục quốc gia vào năm 2010 trong Đề cương giáo dục quốc gia 2010-2020 và được tích hợp thêm trong một số chính sách giáo dục địa phương. Các chính sách và kế hoạch quốc gia về biến đổi khí hậu ở Trung Quốc đề cập đến giáo dục nhưng không đề cập cụ thể đến CCE.