Tổng quan nghiên cứu

Theo kết quả trích xuất từ Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam năm 2008 (VHLSS 2008), trong khi tỷ lệ nghèo tiền tệ theo chi tiêu tại khu vực đô thị chỉ chiếm mức 0,36%, thì phương pháp tiếp cận đa chiều lại chỉ ra rằng có tới 16,40% hộ gia đình đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về các điều kiện phúc lợi thiết yếu. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn bắt nguồn từ thực trạng quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao tại Việt Nam, kéo theo sự gia tăng của các bất bình đẳng phi tiền tệ, hình thành các khu vực nghèo đô thị bị che khuất bởi thước đo thu nhập truyền thống. Việc chỉ dựa vào chuẩn nghèo đơn chiều khiến nhiều nhóm dân cư dễ bị tổn thương mất đi cơ hội tiếp cận với các chính sách an sinh xã hội phù hợp.

Mục tiêu cụ thể của công trình là nhận diện các khía cạnh thiếu hụt trầm trọng của cư dân đô thị, xác định tỷ lệ nghèo đa chiều thông qua bộ chỉ số MPI, đồng thời so sánh sự khác biệt giữa chuẩn nghèo tiền tệ và nghèo phi tiền tệ tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Nghiên cứu thực hiện phân tích chuyên sâu trên tập dữ liệu vi mô gồm 555 hộ gia đình thành thị trích xuất từ khảo sát chính thức của Tổng cục Thống kê năm 2008. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được thể hiện rõ qua việc cung cấp bằng chứng định lượng chính xác với chỉ số nghèo đa chiều đạt mức 4,40% cùng cường độ thiếu hụt trung bình lên tới 26,85%. Những phát hiện này tạo tiền đề khoa học vững chắc để các nhà hoạch định chính sách cải tổ cơ chế phân bổ ngân sách giảm nghèo, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thu nhập danh nghĩa sang can thiệp trực tiếp vào các chiều thiếu hụt hạ tầng và xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp cận năng lực của Amartya Sen kết hợp cùng khung đo lường nghèo đa chiều do Sabina Alkire và Maria Emma Santos phát triển năm 2010 từ Viện Sáng kiến Nghèo đói và Phát triển Con người Oxford. Bên cạnh đó, tác giả đối chiếu sâu sắc giữa lý thuyết nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Robert McNamara và Robert Gordon với lý thuyết nghèo tương đối của Bellù và Liberati để làm rõ bản chất của sự tước đoạt phúc lợi. Khung phân tích mở rộng mô hình chuẩn 3 chiều thành mô hình 5 chiều đo lường cốt lõi với 15 chỉ số cụ thể:

Thứ nhất là chiều giáo dục chiếm 20% tổng trọng số, bao gồm 3 chỉ số thành phần: số năm đi học bình quân của thành viên gia đình (chiếm 6,67%), tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi 6 đến 15 không đến trường (chiếm 6,67%) và tỷ lệ người lớn từ 15 tuổi trở lên mù chữ (chiếm 6,67%). Thứ hai là chiều sức khỏe chiếm 20% trọng số với 3 chỉ số: khả năng chi trả viện phí khi khám chữa bệnh (chiếm 6,67%), thời gian làm việc trên 8 giờ mỗi ngày (chiếm 6,67%) và tình trạng có thành viên mắc bệnh mãn tính từ 1 tháng trở lên trong năm (chiếm 6,67%). Thứ ba là chiều điều kiện sống chiếm 20% trọng số, phân bổ đều cho 7 chỉ số (mỗi chỉ số chiếm 2,86%): tiếp cận nguồn điện lưới, điều kiện nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước ăn uống sinh hoạt, sở hữu tài sản tiêu dùng bền vững, diện tích nhà ở bình quân dưới 10m2 một người, quyền sở hữu nhà ở và loại nhà ở kiên cố. Thứ tư là chiều phúc lợi kinh tế chiếm 20% trọng số, đo lường thông qua mức chi tiêu bình quân đầu người so với chuẩn nghèo địa phương. Thứ năm là chiều việc làm và lao động chiếm 20% trọng số, đo lường tình trạng thiếu việc làm từ 3 tháng trở lên của lao động chính. Các khái niệm then chốt như tỷ lệ đếm đầu nghèo đa chiều, cường độ thiếu hụt trung bình và mức thiếu hụt kép được vận dụng để phản ánh toàn diện các rào cản phát triển con người.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam năm 2008 (VHLSS 2008) do Tổng cục Thống kê ban hành theo Quyết định số 322/QĐ-TCTK ngày 22 tháng 4 năm 2008. Từ tổng thể mẫu khảo sát toàn quốc gồm 45.945 hộ gia đình tại 3.063 xã phường, tác giả trích xuất mẫu nghiên cứu gồm 555 hộ gia đình đô thị thuộc 5 thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: Hà Nội (126 hộ), Hải Phòng (60 hộ), Đà Nẵng (87 hộ), Thành phố Hồ Chí Minh (240 hộ) và Cần Thơ (42 hộ).

Phương pháp chọn mẫu kế thừa kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn của Tổng cục Thống kê, bảo đảm tính đại diện cao cho các tầng lớp dân cư thành thị. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích Alkire-Foster và Alkire-Santos xuất phát từ khả năng vượt trội trong việc tổng hợp các biến số rời rạc phi tiền tệ, cho phép phân rã dữ liệu theo từng chiều thiếu hụt và từng đơn vị hành chính mà không làm sai lệch bức tranh tổng thể. Ngưỡng nghèo đa chiều được thiết lập ở mức tối thiểu 22% tổng trọng số thiếu hụt (tương đương với việc hộ gia đình bị tước đoạt từ 2 đến 8 chỉ số thuộc 2 chiều đo lường trở lên). Toàn bộ quy trình tính toán định lượng được hoàn thành trên bộ số liệu năm 2008 nhằm phục vụ công tác đánh giá chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực nghiệm mang lại bốn phát hiện quan trọng có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác đo lường nghèo đô thị tại Việt Nam:

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch rất lớn giữa tỷ lệ nghèo tiền tệ và tỷ lệ nghèo đa chiều. Trong khi phương pháp đo lường đơn chiều theo mức chi tiêu chỉ xác định được 2 hộ nghèo (tương ứng tỷ lệ 0,36%), thì chỉ số nghèo đa chiều MPI đã nhận diện được 91 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ đếm đầu 16,40% trên tổng số 555 hộ khảo sát), với cường độ thiếu hụt trung bình của nhóm nghèo này là 26,85%.

Thứ hai, mức độ nghèo đa chiều có sự phân hóa sâu sắc giữa các trung tâm kinh tế lớn. Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ là hai đô thị có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất, lần lượt đạt 22,92% (cường độ thiếu hụt 27,37%, chỉ số MPI bằng 6,27%) và 21,43% (cường độ thiếu hụt 26,35%, chỉ số MPI bằng 5,65%). Kết quả này đối lập mạnh mẽ với số liệu nghèo tiền tệ chính thức của Tổng cục Thống kê năm 2008 khi báo cáo tỷ lệ nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ở mức 0,30%.

Thứ ba, Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ nghèo đa chiều thấp nhất trong 5 đô thị với 8,33% (chỉ số MPI bằng 2,36%), tuy nhiên nhóm hộ nghèo tại đây lại chịu cường độ thiếu hụt trung bình cao nhất lên tới 28,34%. Trong khi đó, tỷ lệ nghèo đa chiều tại Hà Nội được ghi nhận ở mức 10,32% (chỉ số MPI bằng 2,72%) và Đà Nẵng ghi nhận mức 14,94% (chỉ số MPI bằng 3,90%).

Thứ tư, khi bóc tách 15 chỉ số thành phần, loại nhà ở tạm bợ hoặc bán kiên cố là chỉ số có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất với 25,63%, theo sau là tình trạng thiếu việc làm với 20,00%, diện tích nhà ở chật hẹp và gánh nặng thời gian làm việc kéo dài. Ngược lại, 100% hộ dân đô thị đã tiếp cận nguồn điện lưới và 98,74% trẻ em từ 6 đến 15 tuổi được bảo đảm quyền đến trường.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ nghèo tiền tệ (0,36%) và nghèo đa chiều (16,40%) phản ánh hiện tượng người nghèo đô thị bị bẫy trong các thiếu hụt phi tiền tệ. Chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại các đô thị loại đặc biệt khiến thu nhập danh nghĩa của người dân dù vượt qua chuẩn nghèo 500.000 đồng một người một tháng vẫn không đủ khả năng tích lũy để cải thiện chất lượng nhà ở, mua sắm tài sản hoặc tiếp cận dịch vụ y tế tư nhân khi ốm đau. Khi so sánh với công trình của Asselin và Vũ năm 2009 cũng như báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2008 (ghi nhận tỷ lệ nghèo đô thị toàn quốc là 3,30%), nghiên cứu này chứng minh rằng thước đo tiền tệ truyền thống đã che khuất một bộ phận lớn lao động nhập cư và cư dân nghèo sống tại các khu nhà tạm ven đô.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng ma trận đóng góp chỉ số thiếu hụt và biểu đồ cột ghép hai trục tọa độ: trục tung bên trái biểu diễn tỷ lệ đếm đầu nghèo đa chiều (dao động từ 8,33% tại Hải Phòng đến 22,92% tại Thành phố Hồ Chí Minh), trục tung bên phải biểu diễn cường độ thiếu hụt trung bình (tập trung quanh ngưỡng 26,08% đến 28,34%). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý thấy rõ rằng giảm nghèo đô thị không đơn thuần là câu chuyện tăng trưởng thu nhập, mà cốt lõi là giải quyết khủng hoảng nhà ở và tình trạng việc làm bấp bênh của người lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các chiều thiếu hụt nghiêm trọng tại 5 đô thị trung ương, luận văn đưa ra bốn nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

Thứ nhất, triển khai chương trình phát triển nhà ở xã hội và chỉnh trang đô thị quy mô lớn. Ủy ban nhân dân các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ cần phối hợp cùng Sở Xây dựng xây dựng các khu nhà ở xã hội cho thuê dài hạn với chi phí thấp, đặt mục tiêu hành động kéo giảm tỷ lệ hộ gia đình sống trong nhà tạm bợ từ mức 25,63% xuống dưới 10,00% trong lộ trình thực hiện 2015-2020.

Thứ hai, thiết lập mạng lưới an sinh việc làm và đào tạo kỹ năng nghề thích ứng đô thị. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các trung tâm dịch vụ việc làm địa phương tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn và kết nối cung cầu lao động, hướng tới mục tiêu kiểm soát tỷ lệ hộ gia đình có lao động chính thiếu việc làm từ 20,00% xuống dưới 5,00% trước năm 2018.

Thứ ba, mở rộng phạm vi bao phủ của bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí y tế đột xuất. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội cần thiết lập quỹ tín dụng y tế ưu đãi, hỗ trợ 100% chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện cho các hộ thuộc diện cận nghèo đa chiều, bảo đảm không để phát sinh tình trạng tái nghèo do gánh nặng viện phí trong giai đoạn 2015-2017.

Thứ tư, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách giảm nghèo quốc gia dựa trên chỉ số MPI. Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần chính thức đưa bộ công cụ 5 chiều 15 chỉ số vào quy trình thẩm định nhu cầu ngân sách địa phương, phân bổ nguồn lực dựa trên quy mô dân số nghèo đa chiều thay vì chuẩn thu nhập danh nghĩa, hoàn thành thí điểm trong giai đoạn 2014-2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách an sinh xã hội và quản lý đô thị. Cán bộ tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng bộ chỉ số 5 chiều gồm 15 chỉ số thành phần để xây dựng các khung tiêu chí phân loại hộ nghèo đô thị chính xác hơn trong các chương trình mục tiêu quốc gia.

Thứ hai, các chuyên gia kinh tế phát triển và nhà nghiên cứu học thuật. Nghiên cứu sinh và nhà phân tích có thể ứng dụng phương pháp luận Alkire-Foster cùng kỹ thuật xử lý dữ liệu vi mô VHLSS trên mẫu 555 hộ thành thị để mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đô thị loại hai hoặc phân tích biến động nghèo theo chuỗi thời gian.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và các định chế phát triển quốc tế như Ngân hàng Thế giới và UNDP. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng dữ liệu định lượng về cường độ thiếu hụt 26,85% để thiết kế các dự án tài trợ nhà ở, nước sạch và đào tạo nghề tập trung vào các điểm nghẽn phúc lợi thực tế tại 5 thành phố lớn.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành kinh tế học. Luận văn cung cấp một hình mẫu nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh, từ việc chuyển hóa dữ liệu điều tra mức sống năm 2008 đến cách vận dụng công thức tính toán chỉ số MPI, phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập và giảng dạy môn Kinh tế Phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ nghèo đa chiều tại Thành phố Hồ Chí Minh lại lên tới 22,92% trong khi nghèo tiền tệ chỉ là 0,30%?
Nguyên nhân là do áp lực chi phí sinh hoạt cao và giá nhà ở đắt đỏ khiến nhiều hộ gia đình dù có thu nhập trên chuẩn nghèo 500.000 đồng nhưng vẫn phải sống trong điều kiện nhà ở tạm bợ, diện tích chật hẹp và việc làm thiếu ổn định.

Phương pháp Alkire-Foster áp dụng trong luận văn có ưu điểm gì so với phương pháp đo lường nghèo truyền thống?
Phương pháp này kết hợp đồng thời tỷ lệ đếm đầu và cường độ thiếu hụt trung bình thành một chỉ số duy nhất, cho phép phân rã chi tiết mức độ đóng góp của từng chỉ số thành phần và từng khu vực địa lý cụ thể.

Những chỉ số nào đóng góp lớn nhất vào tình trạng nghèo đa chiều tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương?
Hai chỉ số có mức độ thiếu hụt nghiêm trọng nhất là loại nhà ở tạm bợ chiếm 25,63% và tình trạng thiếu việc làm chiếm 20,00%, trong khi chỉ số điện lưới sinh hoạt đạt tỷ lệ tiếp cận hoàn hảo 100%.

Mẫu khảo sát 555 hộ gia đình có bảo đảm tính đại diện khoa học cho khu vực thành thị không?
Mẫu 555 hộ được trích xuất trực tiếp từ Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam năm 2008 của Tổng cục Thống kê, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhiều giai đoạn nên bảo đảm tính đại diện thống kê cao.

Chỉ số MPI có thể ứng dụng như thế nào trong công tác phân bổ ngân sách nhà nước?
Chính phủ có thể sử dụng chỉ số MPI kết hợp cùng tỷ lệ thiếu hụt từng chiều để cấp phát ngân sách có mục tiêu, tập trung trực tiếp vào cải tạo nhà ở và hỗ trợ y tế thay vì phân bổ cào bằng theo thu nhập.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng thành công tỷ lệ nghèo đa chiều đô thị đạt 16,40% tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương, bóc tách toàn diện tình trạng nghèo thực tế bị che khuất bởi tỷ lệ nghèo tiền tệ 0,36%.
  • Xác định hai rào cản phúc lợi lớn nhất đối với cư dân thành thị là chất lượng nhà ở tạm bợ với tỷ lệ thiếu hụt 25,63% và tình trạng thiếu việc làm với mức thiếu hụt 20,00%.
  • Chứng minh sự phân hóa rõ nét giữa các đô thị khi Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất đạt 22,92%, trong khi Hải Phòng chịu cường độ thiếu hụt trung bình khắc nghiệt nhất ở mức 28,34%.
  • Đóng góp khung phương pháp luận 5 chiều với 15 chỉ số chuẩn hóa, tạo công cụ phân tích khoa học hỗ trợ chuyển đổi chính sách giảm nghèo từ đơn chiều sang đa chiều.
  • Đề xuất lộ trình can thiệp chính sách giai đoạn 2015-2020 nhằm tập trung phát triển nhà ở xã hội, bảo trợ việc làm và hoàn thiện mạng lưới bảo hiểm y tế đô thị.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên viên hoạch định chính sách quan tâm có thể tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng mô hình đo lường nghèo đa chiều này vào thực tiễn phân tích kinh tế - xã hội.