Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội Lãnh Đạo Thực Hiện Chính Sách Xã Hội Từ Năm 2001 Đến Năm 2011

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ thành phố hà nội lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2011, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

145
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Những yếu tố tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2005

1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội

1.1.2. Tình hình thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội trước năm 2001

1.1.3. Yêu cầu mới về thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội

1.2. Đảng bộ Hà Nội vận dụng chủ trƣơng của Đảng vào thực hiện chính sách xã hội ở thành phố từ năm 2001 đến năm 2005

1.2.1. Chủ trương của Đảng về chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2005

1.2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách xã hội của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2005

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẨY MẠNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011

2.1. Yêu cầu mới đặt ra đối với đẩy mạnh thực hiện chính sách xã hội ở Thành phố Hà Nội

2.2. Đảng bộ Thành phố Hà Nội vận dụng chủ trƣơng của Đảng đẩy mạnh lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2006 đến năm 2011

2.2.1. Chủ trương của Đảng về chính sách xã hội từ năm 2006 đến năm 2011

2.2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội đẩy mạnh lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2006 đến năm 2011

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ĐÚC RÚT TỪ QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI (2001 – 2011)

3.1. Nhận xét quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2011

3.1.1. Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vào việc đề ra chủ trương, chính sách phù hợp trong lãnh đạo thực hiện các CSXH trên địa bàn

3.1.2. Đảng bộ Thành phố sớm cụ thể hóa những chủ trương của Đảng về CSXH thông qua công tác tổ chức thực hiện và ban hành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể

3.1.3. Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được là chủ yếu, trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội, Đảng bộ Hà Nội còn tồn tại một số hạn chế

3.2. Một số kinh nghiệm

3.2.1. Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của chính sách xã hội trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thực hiện các chính sách xã hội phải đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với nhau

3.2.2. Phát huy và kết hợp mọi nguồn lực trong thực hiện chính sách xã hội

3.2.3. Thường xuyên quan tâm công tác tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách xã hội có tâm huyết ở địa bàn nhằm đáp ứng tốt yêu cầu công tác xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Xã Hội Tại Hà Nội 2001 2011

Chính sách xã hội tại Hà Nội trong giai đoạn 2001-2011 đã trải qua nhiều biến động và thay đổi quan trọng. Đây là thời kỳ mà Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã nỗ lực thực hiện các chính sách nhằm nâng cao đời sống người dân, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững. Các chính sách này không chỉ tập trung vào việc xóa đói giảm nghèo mà còn chú trọng đến việc tạo việc làm, bảo vệ quyền lợi cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và thực hiện các chính sách này.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Kinh Tế Xã Hội Tại Hà Nội

Giai đoạn 2001-2011, Hà Nội chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đi kèm với nhiều thách thức như tình trạng nghèo đói, thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác. Đảng bộ Thành phố đã nhận thức rõ ràng về những thách thức này và đã đưa ra các chính sách xã hội phù hợp nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại.

1.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Thành Phố Trong Chính Sách Xã Hội

Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện các chính sách xã hội. Các chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa thành các chương trình hành động, giúp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã hội tại địa phương.

II. Những Thách Thức Trong Thực Hiện Chính Sách Xã Hội Tại Hà Nội

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng việc thực hiện chính sách xã hội tại Hà Nội trong giai đoạn này cũng gặp không ít thách thức. Tình trạng đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra nhiều vấn đề xã hội cần được giải quyết, từ việc làm đến an sinh xã hội. Đặc biệt, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng đã đặt ra yêu cầu cấp bách về việc điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách xã hội.

2.1. Tình Trạng Nghèo Đói và Thất Nghiệp

Mặc dù Hà Nội đã có nhiều nỗ lực trong việc xóa đói giảm nghèo, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư sống trong cảnh nghèo khó. Tình trạng thất nghiệp cũng gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Điều này đòi hỏi các chính sách xã hội cần phải được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tế.

2.2. Sự Phân Hóa Giàu Nghèo Trong Xã Hội

Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt tại Hà Nội, với một số nhóm dân cư được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế, trong khi nhiều người khác vẫn gặp khó khăn. Chính sách xã hội cần phải tập trung vào việc giảm thiểu sự chênh lệch này để đảm bảo công bằng xã hội.

III. Phương Pháp Thực Hiện Chính Sách Xã Hội Tại Hà Nội

Để thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội, Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành và sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng trong quá trình này. Các chương trình hành động cụ thể đã được triển khai nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các chính sách.

3.1. Phối Hợp Giữa Các Cơ Quan Nhà Nước

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước là yếu tố quyết định trong việc thực hiện chính sách xã hội. Các cơ quan cần làm việc cùng nhau để đảm bảo rằng các chính sách được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

3.2. Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách xã hội. Sự tham gia của người dân không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình mà còn tạo ra sự đồng thuận xã hội, góp phần vào sự thành công của các chính sách.

IV. Kết Quả Đạt Được Từ Chính Sách Xã Hội Tại Hà Nội

Trong giai đoạn 2001-2011, Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực từ việc thực hiện chính sách xã hội. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể và nhiều chương trình an sinh xã hội đã được triển khai thành công. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.1. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Chính sách xã hội đã góp phần cải thiện đời sống của người dân, giúp họ có điều kiện sống tốt hơn. Nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

4.2. Giảm Tỷ Lệ Nghèo Đói

Tỷ lệ nghèo đói tại Hà Nội đã giảm đáng kể trong giai đoạn này, nhờ vào các chính sách hỗ trợ và phát triển kinh tế. Điều này cho thấy sự hiệu quả của các chính sách xã hội trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kinh Nghiệm Rút Ra Từ Quá Trình Thực Hiện Chính Sách Xã Hội

Quá trình thực hiện chính sách xã hội tại Hà Nội từ năm 2001 đến 2011 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm này không chỉ có giá trị cho Hà Nội mà còn có thể áp dụng cho các địa phương khác trong cả nước. Việc nhận thức đúng đắn về vai trò của chính sách xã hội và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan là rất cần thiết.

5.1. Nhận Thức Đúng Đắn Về Chính Sách Xã Hội

Việc nhận thức đúng đắn về vai trò của chính sách xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội là rất quan trọng. Điều này giúp các cơ quan, ban ngành có thể triển khai các chính sách một cách hiệu quả hơn.

5.2. Phát Huy Nguồn Lực Từ Cộng Đồng

Phát huy nguồn lực từ cộng đồng là một trong những kinh nghiệm quan trọng. Sự tham gia của người dân không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách mà còn tạo ra sự đồng thuận xã hội.

VI. Tương Lai Của Chính Sách Xã Hội Tại Hà Nội

Trong tương lai, chính sách xã hội tại Hà Nội cần tiếp tục được hoàn thiện và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Việc phát triển bền vững và đảm bảo công bằng xã hội sẽ là những mục tiêu hàng đầu trong quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô. Đảng bộ Thành phố cần tiếp tục lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện các chính sách xã hội một cách hiệu quả.

6.1. Định Hướng Phát Triển Chính Sách Xã Hội

Định hướng phát triển chính sách xã hội trong tương lai cần phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững.

6.2. Tăng Cường Sự Tham Gia Của Cộng Đồng

Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện chính sách xã hội sẽ giúp nâng cao hiệu quả và tính khả thi của các chương trình. Sự đồng thuận và hỗ trợ từ người dân là yếu tố quyết định cho sự thành công của các chính sách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ thành phố hà nội lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 2001 đến năm 2011

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương (6 tiết). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Những yếu tố tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2005 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội *Địa – tự nhiên Hà Nội – Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đợt điều chỉnh địa giới từ 01-8-2008 có diện tích tự nhiên 3. Hà Nội tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam và Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên ở phía Đông; Hòa Bình và Phú Thọ ở phía Tây. Ở vào vị trí trung tâm nên Hà Nội có khả năng giao lưu rộng rãi và thuận tiện trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật, là tiền đề cho việc đẩy mạnh và mở rộng phát triển thành phố, nhưng cũng dễ du nhập các tệ nạn xã hội.

Khí hậu Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Do mùa hạ và mùa đông kéo dài và gắn với gió mùa nên đặc trưng nổi bật của Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa chủ yếu: mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng gắn với gió mùa đông nam và trùng với mùa mưa, mùa lạnh gắn với gió mùa đông bắc nên khô lạnh vào đầu mùa và cuối mùa có mưa phùn ẩm ướt. Mạng lưới sông ngòi ở Hà Nội khá dày đặc với hai hệ thống chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình.

Bên cạnh đó Thành phố có rất nhiều hồ, nổi tiếng nhất là Hồ Tây và Hồ Hoàn Kiếm. Ba phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu những con sông khác. Địa hình Hà Nội thấp dần 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5m đến 20m so với mực nước biển. Diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.

Các điều kiện trên rất thuận lợi cho Thành phố phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng đa canh, hình thành các vùng chuyên canh rau đậu, cây ăn quả, hoa và cây cảnh phục vụ cho khu vực nội thành và các địa phương khác. Một số vùng chuyên canh có quy mô lớn và nổi tiếng như cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh, hoa Nhật Tân và Tây Tựu, rau sạch Vân Nội và Lĩnh Nam. Trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, một phần rất lớn diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp bị giảm xuống nhanh do phải chuyển sang sử dụng cho những mục đích khác. Điều này đòi hỏi chương trình việc làm và giảm nghèo của Thành phố phải cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, hướng nông dân vào việc sử dụng đất theo chiều sâu, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người nghèo ngoài lĩnh vực nông nghiệp.

*Địa hành chính Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành Thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại.

Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là Thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay. Ngày 21-12-1978, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh Phú là Mê Linh, Sóc Sơn. Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Tính đến trước 31-7-2008 Hà Nội có diện tích 921 km2, dân số hơn 3.300 người, gồm 9 quận.

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8-2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội cùng với Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Hà Nội đã được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" vào ngày 17-6-1999. Ngày 4-10-2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tặng thưởng thành phố Hà Nội danh hiệu "Thủ đô anh hùng" [92, 19-4-2014].

Với tuổi đời hàng ngàn năm văn hiến, Hà Nội chính là thủ đô lâu đời nhất trong 11 thủ đô của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Hà Nội đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính. Sự thay đổi này gây không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa sau thời kỳ bao cấp, từ cuối thập niên 1990, sự phát triển về kinh tế dẫn đến các khu vực ngoại ô Hà Nội nhanh chóng được đô thị hóa.

Những cao ốc mọc lên ở khu vực nội ô và các trung tâm công nghiệp cũng được xây dựng ở những huyện ngoại thành. Sự phát triển cũng kéo theo những hệ lụy. Quá trình nhập cư của một bộ phận dân cư từ nơi khác đến làm cho tính chất dân cư của Thành phố ngày càng đa dạng và phức tạp hơn, nhiều vấn đề cấp thiết được đặt ra như: xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tệ nạn xã hội…đòi hỏi thành phố phải có những chủ trương, biện pháp cơ bản để giải quyết kịp thời góp phần tạo nên sự phát triển ổn định. * Về kinh tế Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch sử.

Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hàng Than. đã minh chứng cho điều này. Gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hai trong nền kinh tế Việt Nam. Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000 là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam [89, 19-4-2014]. Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có những thay đổi về cơ cấu kinh tế. Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8%.

Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2%. Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà. cũng dần phục hồi và phát triển [89, 19-4-2014] Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.

Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội [89, 19-4-2014]. Sự phát triển kinh tế chính là nền tảng góp phần giải quyết việc làm cho người lao động cũng như xóa đói giảm nghèo. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế.

Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khăn: Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư còn thấp; Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn; Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế không cao và Thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư. * Dân số và lao động Từ rất lâu, Thăng Long – Hà Nội đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ. Vào thế kỷ 15, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Nhưng khi nhận thấy họ chính là lực lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại.

Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn là người Hoa. Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, rất nhiều những người Hoa đã ở lại sinh sống thành phố này. Trải qua các triều đại Lý,Trần, Lê, vẫn có những người Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long. Những thay đổi về dân cư vẫn diễn ra liên tục và kéo dài cho tới ngày nay.

Đây một mặt là sự hội tụ nhân tài về Thủ đô, mặt khác là lý do khiến tăng dân số cơ học luôn ở mức cao, nảy sinh nhiều vấn đề về lao động và việc làm, đói nghèo, tệ nạn xã hội. Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây. Vào thời điểm năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km².

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ