MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo là một trong những vấn đề gay gắt và mang tính toàn cầu, còn trầm trọng hơn khi nó vẫn còn tồn tại trên phạm vi vô cùng rộng lớn. Nghèo là nỗi bất hạnh của nhiều người, là nghịch lý trên con đường phát triển chung của xã hội. Thực tế hiện nay việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thực sự chính xác; Mặt khác chuẩn nghèo hiện hành chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu cơ bản, lại được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu của người dân.
Theo hướng mới, người nghèo được tiếp cận theo hướng đa chiều, có nghĩa là không chỉ có mức thu nhập bình quân dưới chuẩn nghèo mà còn thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xã hội như giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống, tiếp cận thông tin. Như vậy, có thể thấy, công tác giảm nghèo nếu chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập/chi tiêu là chưa đủ. Bởi trên thực tế, nếu đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập, nhiều địa phương không còn hộ nghèo, theo cả chuẩn nghèo quốc gia lẫn địa phương. Nhưng nhiều người dân tuy đã thoát nghèo theo các tiêu chuẩn vẫn thiếu thốn rất nhiều những nhu cầu cần thiết so với mức phát triển chung của cộng đồng.
Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề chất lượng bền vững trong giảm nghèo trong thời gian tới, đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận đa ngành, trong đó, tình trạng nghèo đói phải được xem như một hiện tượng đa chiều, không chỉ có mỗi nghèo về thu nhập, chi tiêu. n 2 Đánh giá về nghèo đa chiều sẽ đánh giá được các khía cạnh của nghèo từ đó xác định được các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và giúp xây dụng các chủ trương, chính sách toàn diện, phù hợp mà còn hướng đến lựa chọn đối tượng hưởng thụ một cách chính xác, hợp lý và khắc phục những điểm yếu trong đo lường nghèo bằng thu nhập vốn đã bộc lộ. Trong những năm gần đây xã Cổ Lũng – Huyện Phú Lương – Tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định. Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo của toàn xã giảm 5,1% năm 2013 xuống còn 4,36% năm 2014 (UBND xã Cổ Lũng [5]).
Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ tái nghèo còn cao, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao. Vấn đề cấp thiết cần được đề ra là phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các phương pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các thế yếu, nhằm đưa xã Cổ Lũng thoát nghèo bền vững có hiệu quả. Phương pháp đo lường nghèo đổi từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Cổ Lũng – Huyện Phú Lương – Tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Cổ Lũng, từ đó phân tích, đánh giá nghèo một cách chính xác theo các phương án 1 và 2. Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền n 3 vững tại xã Cổ Lũng.
Góp phần cho việc giảm nghèo, thoát nghèo và tránh tái nghèo. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu. - Xác định được thực trạng nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều. - So sánh được thực trạng nghèo đa chiều và thực trạng nghèo theo chuẩn nghèo hiện nay (đơn chiều) để đánh giá được các khía cạnh của nghèo.
- Đánh giá nghèo đa chiều theo các phương án 1 và 2 được nêu trong đề án giảm nghèo đa chiều của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. - Xác định được nguyên nhân nghèo đa chiều. - Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo bền vững theo các nhóm hộ nghèo. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng nghèo của địa phương thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững của xã Cổ Lũng. Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho địa phương có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng nghèo của xã.
Qua đó phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm giúp địa phương giảm nghèo bền vững. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Định nghĩa về nghèo Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau: Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”.[6] Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm:"Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực". n 5 Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Nguyễn Hằng Trang, 1993) [3]. Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người.
Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người. Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v… “Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc sống” (Vũ Thị Bình và cs, 2006) [1]. “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn” (Vũ Thị Bình và cs, 2006) [1].
“Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương” (Vũ Thị Bình và cs, 2006) [1]. Nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là không gian, thời gian, môi trường và giới. Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp do thiên tai, rủi do hay do con người gây ra) (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [2]. Vể giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ.
Mặc dù trong gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [2]. n 6 Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [2]. Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi trường khắc nhiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [2]. Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi.
Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến. Khái niêm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phân dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và không có khả năng trả nợ.