đặt vấn đề để cho thấy tính cấp thiết cũng như mức độ quan trọng của đề tài. Đồng thời cũng nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài để có cái nhìn tổng quan về vấn đề cũng như việc định hướng đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung chương 2 bao gồm: tổng quát lý thuyết về năng lực, tình huống đánh giá năng lực sinh viên,… và lược khảo tài liệu để có cái nhìn tổng quan về tầm quan trọng, ý nghĩa, mục đích của việc đánh giá năng lực sinh viên qua đó làm nền tảng và thông tin sử dụng cho đề tài cần nghiên cứu. Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ Nội dung chương 3 bao gồm: tổng quan về năng lực, kỹ năng, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực và việc đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ.
Chương 4: Xây dựng hoàn thiện tình huống đánh giá năng lực sinh viên khoa Quản lý công nghiệp trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ Nội dung chương 4 bao gồm: Khái quát về các năng lực, kỹ năng của ngành sau đó tiến hành xây dựng tình huống đánh giá năng lực sinh viên. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Nội dung chương 5 bao gồm: Xu hướng phát triển, nhu cầu thị trường hiện nay và đề ra một số giải pháp cho tương lai. SVTH: Nguyễn Thị Vui 4 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm Khái niệm năng lực được xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và thời điểm khác nhau, cho đến nay tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về năng lực, sau đây là một vài khái niệm điển hình: De Ketele (1995), cho rằng “Năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên một nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra” [21]. Đến năm 2000 Roegier đã nhìn thấy tầm quan trọng to lớn của năng lực đối với bản thân của con người ông cho rằng: “Năng lực, đối với cá nhân là khả năng huy động một cách có ý thức một tập hợp tích hợp các nguồn để giải quyết một gia đình tình huống – vấn đề” [5].
Đối với Scallon (2004), “Năng lực là một khả năng, một tiềm năng hoặc một đặc tính thường trực của một cá nhân. Năng lực được phân biệt với khái niệm kết quả biểu hiện của năng lực. Song đó, năng lực là khả năng của một người cần huy động, thậm chí cần sử dụng có ý thức những nguồn riêng của mình hay những nguồn đến từ bên ngoài”[24]. Tuy nhiên, John Erpenbeck lại cho rằng “Năng lực được tri thức nền tảng, được hoạt động như khả năng, được quy ước bởi giá trị, được phát triển qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định” [19].
Từ các nhận định trên, ta có thể nhận thấy rằng: “Năng lực là khả năng của mỗi người, cũng chính vì thế nó không có một điểm chung nào giữa người với người. Năng lực sẽ ảnh hưởng đến kết quả trong tương lai do cá nhân thực hiện. Hơn thế năng lực là điều kiện để thực hiện, phát triển và tồn tại trong chính cuộc sống của chúng ta.” SVTH: Nguyễn Thị Vui 5 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Dựa vào cơ sở lý luận nói trên ta có thể rút ra được khái niệm của năng lực như sau: 2.2 Cấu trúc của năng lực Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management), năng lực thường bao gồm 3 nhóm yếu tố: A-S-K tương đương với: Thái độ, kỹ năng, kiến thức, trong đó: - Thái độ (Attitude): Là thuận ngữ mô tả cách nhìn nhận về công việc, nhiệm vụ, đồng nghiệp và cộng đồng. Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ nhân sự.
- Kỹ năng (Skill): Là thuật ngữ mô tả những khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong thực tế. - Kiến thức (Knowledge): Là thuật ngữ mô tả những thông tin, sự kiện, quy luật thuộc lĩnh vực được học và nghiên cứu từ trường lớp hoặc được tích lũy từ thực tế, từ các nguồn tư liệu hoặc từ các chuyên gia có kinh nghiệm. Theo phân tích của TS. Nguyễn Văn Tuấn trong chuyên đề bồi dưỡng sư phạm năm 2010 về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã có đề cập đến phần nhận xét của các nhà sư phạm người Đức về cấu trúc của năng lực, thì cấu trúc chung của năng lực bao gồm 4 nội dung, cụ thể như sau: Năng lực chuyên môn (Professinal competency) Năng lực chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn.
Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn. Nhóm năng lực phương pháp (Methodical competency): Năng lực phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực SVTH: Nguyễn Thị Vui 6 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Chương 2: Cơ sở lý thuyết phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nhóm năng lực xã hội (Social competency): Năng lực xã hội là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nhóm năng lực cá thể (Induvidual competency): Năng lực cá thể là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối cách ứng xử và hành vi. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD, năng lực được chia làm 2 nhóm chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Năng lực chung bao gồm: - Khả năng hoạt động một cách độc lập có hiệu quả. - Khả năng kết hợp các công cụ giao tiếp và tri thức vào thực tiễn. - Khả năng thực hiện đạt hiệu quả trong các nhóm xã hội có điều kiện không đồng nhất. - Năng lực chuyên môn ở mỗi lĩnh vực sẽ khác nhau.
Vì vậy, đối với từng môn học cũng sẽ hình thành năng lực chuyên môn riêng. Ví dụ năng lực bán hàng sẽ bao gồm các năng lực sau đây: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng thuyết phục khách hàng; Xử lý tình huống. Tóm lại, năng lực tồn tại rất nhiều dạng khác nhau. Mục đích của việc chia nhỏ từng nhóm năng lực giúp quá trình phân tích, đánh giá được khách quan và dễ quản lý.
Trong giáo dục việc phân tích cấu trúc năng lực sẽ hỗ trợ cho người dạy có được phương pháp tiếp cận người học dễ dàng hơn, kích thích được tinh thần học tập và tăng khả năng sáng tạo. Đối với mỗi cá nhân, việc tự đánh giá năng lực theo từng nhóm năng lực giúp cho cá nhân không bỏ sót bất cứ khả năng nào, dễ kiểm soát năng lực bản thân và phát huy được năng lực tiềm ẩn. SVTH: Nguyễn Thị Vui 7 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Chương 2: Cơ sở lý thuyết 2.2 Đánh giá năng lực Khái niệm Theo Leen pil (2011), “Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa” [10]. Ta có thể nhận thấy rằng năng lực không phải là yếu tố có thể thay đổi nhanh chóng hay ngây lập tức.
Năng lực phải trải qua quá trình rèn luyện, học tập, tích lũy trong thời gian đủ dài. Đánh giá năng lực đối với sinh viên tại Khoa, tại Trường thường được lựa chọn theo phương pháp, cách thức, quy trình. Được thực hiện bởi các chuyên gia hay cá nhân có thẩm quyền đánh giá. Từ đó, Khoa, Trường có thể thu thập thông tin về thực trạng năng lực, sự thay đổi năng lực qua các năm, xác định tiềm năng phát triển năng lực và tìm hướng khắc phục những yếu điểm của sinh viên trực thuộc Khoa, Trường.
Vai trò của đánh giá năng lực Đánh giá năng lực có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý. Từ khi sinh viên bắt đầu học tập tại Khoa cho đến khi tốt nghiệp, việc đánh giá năng lực phục vụ nhiều cho việc sắp xếp, bố trí phương pháp học tập, bổ sung kiến thức cũng như nghiệp vụ cho sinh viên.3 Tình huống đánh giá năng lực 2.1 Khái niệm Tình huống Theo quan điểm triết học, tình huống được nghiên cứu như là một tổ hợp các mối quan hệ xã hội cụ thể, mà đến một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường, biến con người thành một chủ thể của một hoạt động có đối tượng nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, chịu đựng,. Tình huống đánh giá năng lực SVTH: Nguyễn Thị Vui 8 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Christopher Columbus Langdell (1870) là người khởi xướng và sử dụng các tình huống trong giảng dạy về quản trị kinh doanh tại Đại học kinh doanh Havard.
Đây là phương diện đột phá khỏi cái hệ thống đọc – nghe – ghi chép truyền thống của giáo dục với tác dụng rõ rệt là sinh viên có thể trao đổi, phản biện, tích cực tham gia vào bài giảng [8]. Không dừng lại đó, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, William Osler (1921) là người đầu tiên áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống vào đào tạo y bác sĩ và kết quả: sau hai năm học, sinh viên của Osler đã trở nên thuần thục với các kỹ năng trong y học.