chương 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu lí luận.
Phương pháp khảo sát điều tra. Phương pháp phân tích thống kê số liệu thu được qua các cuộc điều tra. Mẫu nghiên cứu. Tiêu chí chọn mẫu.
Phương pháp chọn mẫu. Công cụ khảo sát. Nội dung và mục đích. Căn cứ xây dựng công cụ khảo sát.
Mô tả công cụ khảo sát. Thời gian và tiến trình khảo sát. 46 Tiểu kết chương 2. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Kết quả nghiên cứu. Năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo chuẩn đọc của chương trình Tiếng Việt lớp 5. Năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo yêu cầu của người đọc độc lập. Bàn luận kết quả nghiên cứu.
73 Tiểu kết chương 3. 76 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 93 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT C.H: Đinh Tiên Hoàng K.Đ: Kim Đồng IEG: International Education Group L.Đ: Nguyễn Thị Định OECD: The Organisation for Economic Co-operation and Development PASEC: The CONFEMEN Programme on the Analysis of Education Systems PIRLS: The Progress in International Reading Literacy Study PISA: The Programme for International Student Assessment P.T: Phước Thái P.K: sách giáo khoa S.T: Trần Bình Trọng T.U: Việt Úc DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.
Tiêu chí ra đề kiểm tra môn đọc hiểu Tiếng Việt lớp 5. Phân bố về lượng thời gian đọc độc lập của học sinh .Câu hỏi xây dựng cùng tiêu chí trong hai bài đọc xây dựng theo chuẩn chương trình. Câu hỏi xây dựng cùng tiêu chí trong hai bài đọc xây dựng theo yêu cầu người đọc độc lập. Mô tả mức độ đọc hiểu của học sinh lớp Năm ở các câu hỏi tự luận theo chuẩn chương trình.
Mô tả phân bố chất lượng học sinh lớp Năm theo 5 mức ở các câu đọc hiểu dạng tự luận trong bài đọc 3 và 4. 69 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1. Mối quan hệ giữa việc đọc hiểu văn bản và quá trình nhận thức. Vai trò của học sinh tham gia quá trình đọc hiểu.
Nhiệm vụ của học sinh. Bài học 1 trong sách Collin Primary Literacy – lớp 5. Bài đọc Autralia’s Giant Toads trong sách Spectrum Reading. Bài học 2 trong sách môn Tiếng Anh - My pals are here 6A.
Mối quan hệ giữa các yêu cầu của người đọc độc lập và năng lực đọc hiểu. Nhận biết dàn ý. Nhận biết ý chính của câu, của đoạn trong văn bản. Phát hiện các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết.
Nhận xét về nhân vật. Phát biểu ý kiến cá nhân về cái đẹp. Điểm bài đọc theo chuẩn chương trình. Tần suất đọc của học sinh.
Lượng thời gian đọc mỗi lần/ ngày. Số lượng sách học sinh đọc trong tuần gần nhất. Số lượng các tài liệu học sinh đọc trong thời gian gần nhất. Niềm yêu thích với việc đọc.
Mục đích của việc đọc sách. Các nguồn tài liệu đọc. Tiêu chí chọn tài liệu đọc. Các thể loại tài liệu đọc mà học sinh biết .16 Mối quan hệ giữa những gì rút ra từ việc đọc và thực tế cuộc sống.
Các cách học sinh sử dụng để hiểu nội dung khi đọc. Các hoạt động củng cố và đào sâu nội dung đã đọc. Suy luận hàm ý trong văn bản. Kĩ năng phản hồi.
Liên hệ giữa văn bản đang đọc với các văn bản đã biết, với cuộc sống cá nhân và cuộc sống xung quanh. Hình dung cụ thể trong tâm trí về những gì đang/ sắp/ đã diễn ra trong bài đọc. Diễn đạt lại thông tin từ văn bản đọc theo cách của cá nhân. Điểm bài đọc theo yêu cầu người đọc độc lập.
Điểm trung bình bài đọc theo yêu cầu người đọc độc lập. Lí do chọn đề tài Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp hết sức quan trọng trong đời sống của con người. Ngôn ngữ được phân chia thành: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Nếu ngôn ngữ nói có sản phẩm là lời nói thì ngôn ngữ viết có sản phẩm là văn bản.
Văn bản không những là một trong những cách giúp trình bày suy nghĩ, hiểu biết, tư tưởng, tình cảm… mà còn là cách lưu giữ những tri thức của văn minh nhân loại qua nhiều thế hệ. Vì vậy, việc đọc văn bản và hiểu nội dung văn bản có vai trò hết sức quan trong trong đời sống của mỗi cá nhân, của từng quốc gia trong quá trình phát triển chung của loài người. Đó là sự tiếp thu và nhân rộng tri thức. Đồng thời, cũng là quá trình mỗi cá nhân chuyển biến từ năng lực ngôn ngữ thành năng lực cốt lõi.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, năng lực đọc hiểu được chú trọng trong toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông. Nó được quan tâm hình thành không chỉ trong dạy học tiếng mẹ đẻ mà còn trong các môn học và hoạt động giáo dục khác. Năng lực đọc hiểu giúp các em nhận diện mặt chữ, hiểu nghĩa từ, tránh sai chính tả; cung cấp cho các em vốn từ; hình thành những phẩm chất của tư duy;… Đồng thời, việc đọc hiểu cung cấp cho các em các phong cách viết đa dạng. Ngoài ra, các em rèn luyện nhân cách, tính chân, thiện, mĩ và phát triển trí tuệ cảm xúc.
Từ đó, năng lực đọc hiểu tạo tiền đề thuận lợi cho các hoạt động học tập ở cấp học cao hơn, cũng như trong cuộc sống của các em. Đề án "Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015", đề án “Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” nhấn mạnh học sinh trong thời gian tới phải trở thành người học với năng 2 lực đọc hiểu vững vàng; tìm tòi, nghiên cứu để giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như đời sống và vận dụng kiến thức tiếp thu được vào trong thực tiễn [51], [53]. Điều này có nghĩa học sinh phải trở thành người đọc độc lập ngay từ cấp học đầu tiên để các em có được nền tảng vững chắc trong quá trình học tập suốt đời. Người đọc độc lập là mục đích giáo dục ở các nước tiên tiến như Anh, Nhật, Mỹ, Singapore, Úc,… nhưng lại khá “mới mẻ” ở Việt Nam.
Các tài liệu và công trình nghiên cứu nước ngoài nhấn mạnh quá trình chuyển biến mạnh mẽ từ việc phát triển năng lực đọc hiểu như là một năng lực chuyên biệt của môn học tiếng mẹ đẻ sang việc phát triển năng lực đọc hiểu như là một năng lực căn bản để người học trở thành người đọc độc lập. Nhờ vậy, mỗi cá nhân có khả năng tự học và học suốt đời. Việt Nam đã hòa nhập với thế giới, cũng đã tham gia các tổ chức đánh giá giáo dục quốc tế có uy tín như PISA, PASEC. Điều này có nghĩa là Việt Nam đã và đang tiến tới đạt chuẩn quốc tế trong giáo dục, nhằm phát triển ngang bằng nền giáo dục của các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Để được điều này ngoài những yếu tố khách quan, lẫn chủ quan, giáo dục Việt Nam nhất thiết cần có những người học có khả năng của người đọc độc lập. Đặc biệt, giáo dục Việt Nam cần có sự “chuẩn bị” từ bậc tiểu học nhằm tạo đà phát triển trong tương lai. Hơn thế, thời gian gần đây, không ít vấn đề giáo dục liên quan tới việc đọc hiểu làm dấy lên hồi chuông báo động. Học sinh học ở các cấp học cao hiểu chưa sâu sắc những câu ca dao, tục ngữ; hiểu chưa đúng, hiểu nhầm những tác phẩm văn chương,… tạo ra những câu chuyện cười trào nước mắt.
Để hạn chế vấn đề trên thì năng lực đọc hiểu của các em cần xem xét lại theo hướng người đọc độc lập một cách thực thụ. 3 Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đánh giá năng lực đọc hiểu đã và đang thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu về đánh giá năng lực đọc hiểu so với yêu cầu của người đọc độc lập ở học sinh lớp Năm ở Việt Nam vẫn chưa thật sự có nhiều nghiên cứu. Nhất là trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc đánh giá năng lực đọc hiểu so với yêu cầu của người đọc độc lập ngày càng trở nên cấp thiết.
Người học trở nên tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức và chủ động trong quá trình “học đi đôi với hành”. Xuất phát từ những điều trên, người viết chọn đề tài “Năng lực đọc hiểu của học sinh so với yêu cầu của người đọc độc lập ”. Đề tài nhằm đưa ra những đề xuất phát triển người học thành người đọc độc lập trong quá trình học suốt đời. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những giải pháp phát huy văn hóa đọc ở tỉnh nhà nói riêng và nước ta nói chung.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, năng lực đọc hiểu và những yếu tố xây dựng, ảnh hưởng tới năng lực đọc hiểu rất được quan tâm. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề này. Một số công trình, đề tài nghiên cứu, bài viết khoa học về thực trạng năng lực đọc hiểu của học sinh phổ thông nói chung và tiểu học nói riêng nhìn từ góc độ đáp ứng Chuẩn Kiến thức - Kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông kết hợp với đáp ứng, định hướng chuẩn và năng lực của quốc tế như Đỗ Ngọc Thống (2009) với Đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh – Nhìn từ yêu cầu của PISA; Nguyễn Thị Vân Anh (2012) với Thực trạng dạy học tập đọc lớp 4 và một số đề xuất thay đổi nhằm giúp học sinh đạt chuẩn và rèn kĩ năng sống; Hoàng Thị Tuyết 4 (2013) với So sánh việc hiểu các khái niệm dạy học giữa trong nước và quốc tế và những hàm ẩn cho việc dạy học ở lớp đầu cấp Tiểu học, Hoàng Thị Tuyết (2011) với Khảo sát việc dạy và học đọc viết và năng lực đọc viết của học sinh lớp 1 và 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh; Luận án Tiến Sĩ Giáo dục Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp Bốn và lớp Năm của Nguyễn Thị Hạnh (1999), Khảo sát đánh giá kĩ năng đọc (EGRA) (2013);… Các nghiên cứu trên đều tập trung vào việc khảo sát, phân tích và tổng hợp những mặt được, chưa được; các tương đồng và khác biệt của mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu của chương trình giáo dục Việt Nam so với định hướng, nguyên tắc và chuẩn mực phát triển năng lực đọc của quốc tế.