mở đầu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đồng thời, những điểm nổi bật của luận văn và kết cấu luận văn cũng được trình bày trong chương này. - Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý luận về lòng trung thành của khách hàng và đưa ra một số mô hình nghiên cứu tiêu biểu. Từ đó, xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết trên cơ sở lựa chọn và điều chỉnh phù hợp.
Chương 2 cũng giới thiệu tổng quan về Hitachi và nhà phân phối điện lạnh chính thức của Hitachi tại Việt Nam. - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày các khái niệm nghiên cứu, xây dựng thang đo, thiết kế nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Trong đó, chi tiết các bước nghiên cứu bao gồm xây dựng biến, nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức cũng được trình bày ở chương này. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày thông tin về mẫu khảo sát, các kết quả kiểm định, phân tích đánh giá các kết quả có được, mô tả thực trạng về lòng trung thành của khách hàng và các yếu tố tác động.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày một số nhóm giải pháp và kiến nghị với Hitachi Châu Á nói chung và nhà phân phối điện lạnh, điện gia dụng chính thức của Hitachi nói riêng nhằm duy trì và nâng cao lòng trung thành của khách hàng tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, nêu lên những hạn chế nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÒNG TRUNG THÀNH, VỀ THƯƠNG HIỆU 2.
Lý thuyết về khách hàng Trước tiên, ta tiếp cận khái niệm khách hàng để xác định rõ hơn đối tượng mà doanh nghiệp cần nhắm đến. Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì “khách hàng” là tổ chức hay cá nhân nhận một sản phẩm hay dịch vụ”. Trước đây khi đề cập đến khách hàng, người ta chỉ nghĩ đến những đối tượng bên ngoài tổ chức có mua hàng hóa mà tổ chức đó cung cấp. Tuy nhiên, hiện nay khái niệm khách hàng đã được mở rộng vào bên trong tổ chức.
Đó là định nghĩa chung về khách hàng, tuy nhiên nếu đứng ở mỗi góc độ, mỗi khía cạnh khác nhau thì ta lại đưa ra mỗi quan điểm khác nhau về khách hàng. Đứng trên góc độ Marketing, khách hàng được giáo sư Philip Kotler (2003, bản dịch 2006) phát biểu như sau: - Các công ty phải học cách chuyển đổi từ tập trung sản xuất hàng hóa sang tập trung giữ khách hàng. Các công ty phải thức tỉnh để nhận ra rằng người chủ mới của họ chính là khách hàng. - Công ty phải xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác.
- Công ty nhấn mạnh việc giành được khách hàng với cái giá phải trả là không giữ được khách hàng hiện có. - Chúng ta nên nhắm vào khách hàng như thế nào đây? Đầu tiên, hãy làm theo Nguyên Tắc Vàng của Tiếp thị: Hãy quan tâm đến khách hàng như bạn muốn khách hàng quan tâm đến bạn vậy. Thứ hai, hãy nhận thức rằng thành công của bạn phụ thuộc vào khả năng bạn làm cho khách hàng thành công. Hãy nhắm tới mục tiêu đưa tới khách hàng những điều tốt hơn.
Phải biết họ muốn gì và làm nhiều hơn những gì họ mong đợi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Thỏa mãn được khách hàng thôi vẫn chưa đủ. Mỗi công ty cần phải làm cho khách hàng thấy thỏa mãn nhiều hơn đối thủ cạnh tranh. - Công ty giành được tâm trí và tình cảm của khách hàng thì chắc chắn sẽ giành được thị trường và lợi nhuận.
- Phục vụ tốt tất cả khách hàng không có nghĩa là họ phải được phụ vụ như nhau. Tất cả khách hàng đều quan trọng, nhưng có người lại quan trọng hơn những người khác. Khách hàng tốt hơn thì nhận được ưu đãi hơn, vừa để giữ họ vừa để khuyến khích những khách hàng khác nâng bậc của mình lên. - Công ty nên phân loại khách hàng theo một cách khác.
Nhóm đầu tiên bao gồm những khách hàng sinh lợi nhất được hưởng sự quan tâm nhiều nhất. Nhóm thứ hai bao gồm những khách hàng tăng trưởng nhất được hưởng sự quan tâm lâu dài nhất. Nhóm thứ ba bao gồm những khách hàng cần được bảo vệ nhất cần được can thiệp kịp thời để tránh việc họ bỏ đi. - Tuy nhiên, không phải khách hàng nào cũng cần được giữ.
Còn lại nhóm thứ tư gọi là những khách hàng gây phiền toái nhất. Lợi nhuận họ đem lại là số không hoặc quá nhỏ không đáng để chịu những phiền toái do họ gây ra. - Một số khách hàng tuy sinh lợi nhưng khó làm cho họ hài lòng. Nhưng đó có thể lại là điều tốt đẹp, vì nếu bạn thỏa mãn được khách hàng khó tính nhất thì dễ dàng chìu những khách hàng còn lại.
- Hãy chú ý đến lời than phiền của khách hàng. Đừng bao giờ đánh giá thấp những cơn giận của khách có thể dẫn đến việc hủy hoại danh tiếng của công ty. Xây dựng danh tiếng thì khó mà đánh mất thì dễ. Lý thuyết về lòng trung thành của khách hàng: 2.1 Các khái niệm có liên quan về lòng trung thành: Lòng trung thành được định nghĩa như là cam kết của khách hàng sẽ mua lại sản phẩm hoặc dịch vụ ưa thích (Chaudhuri, 1999), sẽ ưu tiên tìm mua sản phẩm của một thương hiệu nào đó (Yoo và cộng sự, 2000) trong tương lai.
Theo luận điểm marketing: “Lòng trung thành của khách hàng là sự gắn bó lâu dài, mật thiết của khách hàng với một loại sản phẩm hay dịch vụ của một công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 ty nào đó. Nó được thể hiện bằng những hành động lặp đi lặp lại việc mua hay giới thiệu cho khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ của công ty.” Philip Kotler3 cho rằng "trung thành" là một từ ngữ cổ điển mô tả sự cam kết sâu sắc của một người đối với đất nước, gia đình hoặc bạn bè mình. Nó bước sang lĩnh vực tiếp thị với thuật ngữ trung thành với thương hiệu. Sự trung thành với thương hiệu có thể xác định được sơ bộ thông qua tỷ lệ giữ khách hàng của công ty.
Những hãng trung bình thường mất một nửa lượng khách hàng trong vòng chưa đầy 5 năm. Những công ty có được sự trung thành với thương hiệu cao có thể mất ít hơn 20% lượng khách trong 5 năm. Nhưng tỷ lệ giữ được khách hàng cao còn có thể biểu thị điều gì đó không phải là sự trung thành. Nhiều khách hàng dùng mãi một thương hiệu có thể là do quán tính, hay vì thờ ơ với sự thay đổi, hoặc có khi do bị ràng buộc bởi hợp đồng sử dụng dài hạn.
Tạo ra những người khách hàng trung thành đòi hỏi công ty phải phân biệt đối xử. Chúng ta không nói đến sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay giới tính. Mà chúng ta đề cập đến sự phân biệt giữa khách hàng sinh lợi và khách hàng không sinh lợi. Không ai mong đợi công ty phải chăm sóc những khách hàng không sinh lợi ngang bằng với khách hàng sinh lợi.
Các công ty khôn ngoan luôn xác định và tìm kiếm những nhóm khách hàng nào có thể sinh lợi nhiều nhất khi mua hàng. Những khách hàng này có thể sẽ trung thành hơn những người khác. Những khách hàng trung thành này sẽ đem lại cho công ty dòng tiền mua sắm dài hạn cũng như sự giới thiệu đáng tin cậy cho những người khác. Trong khi mọi công ty nên nhắm đến việc tạo ra nhiều khách hàng trung thành, thì sự trung thành không bao giờ mạnh đến nỗi khách hàng có thề từ chối một đối thủ cạnh tranh - kẻ đang hấp dẫn họ bằng những giá trị cao hơn và khả năng cung cấp mọi thứ họ đang có và nhiều hơn thế nữa.
Lòng trung thành của khách hàng được đo lường theo ba cách khác nhau: 3 Philip Kotler: Giáo sư Marketing nổi tiếng thế giới; “cha đẻ” của marketing hiện đại, được xem là huyền thoại duy nhất về marketing, ông tổ của tiếp thị hiện đại thế giới, một trong bốn “Nhà quản trị vĩ đại nhất mọi thời đại” (theo bình chọn của Financial Times). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Đo lường hành vi thông qua hành vi mua hàng lặp lại và bỏ qua các yếu tố tiềm ẩn khác (Nodman, 2004). - Đo lường thông qua thái độ như: ý định mua, đề nghị đối với những người khác hoặc nói thuận lợi về sản phẩm hoặc dịch vụ (Oliver, 1999). - Đo lường kết hợp cả hành vi và thái độ (Jacoby và Chesnut, 1978) Theo định nghĩa của Ben McConnell và Jackie Huba (2002) các thuộc tính của khách hàng rất trung thành bao gồm: - Họ mua và tin tưởng vào hàng hóa và dịch vụ của công ty - Họ trung thành và say mê giới thiệu thương hiệu cho những người bạn, đồng nghiệp hay hàng xóm của họ.
- Họ tự nguyện cung cấp thông tin phản hồi hay tán dương - Họ bỏ qua những sai sót nhất thời về sự phục vụ và chất lượng nhưng cho bạn biết chất lượng giảm. - Họ không bị mua chuộc, khách hàng rất trung thành sẽ ca tụng chất lượng sản phẩm của công ty hết lời. Giá trị chiến lược của lòng trung thành: Giảm chi phí marketing: Nghiên cứu của Frederick F. Reichheld4 cho thấy nếu tăng được 2% khách hàng trung thành, công ty có thể giảm được 10% chi phí hoạt động.
Chi phí thu hút khách hàng mới là rất lớn so với việc nuôi dưỡng khách hàng hiện tại. Do đó, doanh nghiệp nào tạo được lòng trung thành của khách hàng càng cao thì chi phí marketing càng giảm, đồng nghĩa với lợi nhuận ngày càng cao. Thu hút khách hàng mới: Những khách hàng trung thành sau khi tiêu dùng và hài lòng về sản phẩm và dịch vụ, họ sẽ chia sẻ kinh nghiệm với những người quen, quảng cáo những điều tốt đẹp về công ty. Đây chính là một kênh giới thiệu quảng cáo tuyệt vời và miễn phí cho mỗi công ty.
Reichheld: Giám đốc Emeritus và Fellow của Bain & Company, là tác giả có nhiều tác phẩm bán chạy nhất như The Loyalty Effect - 1996 và Loyalty Rules - 2003 do Harvard Business School Press xuất bản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.