CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm lạm phát Theo quan điểm của K.Marx: "Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông, vượt qua nhu cầu của lưu thông hàng hóa, dẫn tới sự mất giá của đồng tiền và phân phối lại thu nhập quốc dân.Lenine “Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông, vượt qua nhu cầu của lưu thông hàng hóa, dẫn tới sự mất giá của đồng tiền và phân phối lại thu nhập quốc dân. Theo nhà kinh tế học M. Friedman đại diện cho trường phái trọng tiền thì: “Lạm phát là một điều kiện trong đó có sự dư cầu nói chung tức là lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lượng hàng hoá có hạn. Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ.
và nó chỉ có thể xuất hiện một khi lượng tiền tăng nhanh hơn sản lượng.” Quan điểm của thuyết trọng tiền: cần chú ý đến tổng mức chi tiêu của xã hội và và việc cung ứng tiền cho chi tiêu đó. Thuyết trọng tiền cho tiền tệ là trung tâm của nền kinh tế và việc cung ứng tiền là nhân tố quyết định những sự vận động của tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa trong ngắn hạn và nó là nhân tố quyết định đến giá cả trong dài hạn.Dornbusch và Fischer cho rằng: Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định. Trong cuốn sách Macroeconomics của N.Gregory Mankiw có viết, Lạm phát chỉ đơn giản là sự tăng lên của mức giá trung bình và giá cả là tỷ lệ mà tiền được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ. Về mặt ngữ nghĩa, theo từ điển tiếng Việt, lạm phát là phát hành số lượng tiền vượt quá mức nhu cầu lưu thông hàng hóa làm cho đồng tiền mất giá.
Vậy có thể nói lạm phát là sự mất giá của đồng tiền hay giảm sức mua của đồng tiền, khi mà một đơn vị tiền tệ có thể mua được ít hàng hóa, dịch vụ hơn. 11 Lạm phát là có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế, có tác động cả tích cực và tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Lạm phát có thể coi là mức thuế của việc giữ tiền, làm tăng chi phí cơ hội của việc tích trữ tiền, từ đó kích thích nguồn tiền tiết kiệm chảy lại về dòng tiền đầu tư. Nhiều nghiên cứu và thực nghiệm đã chỉ ra lạm phát ở mức độ nhất định đối với từng quốc gia khác nhau có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên lạm phát cao sẽ có tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm giảm sức mua của người tiêu dùng và doanh nghiệp từ đó dẫn đến giảm cầu và suy thoái kinh tế.2Phân loại lạm phát Phân loại theo tỷ lệ lạm phát thì có thể chia lạm phát thành 2 loại: • Lạm phát một con số: đây là mức lạm phát dưới 10%. Một số tài liệu còn chia thành lạm phát thấp (dưới 3%) và lạm phát vừa phải (3% đến dưới 10%). • Lạm phát phi mã: lạm phát ở mức 2 con số, giá cả tăng tương đối nhanh. Trong thời kỳ lạm phát phi mã thì người dân có xu hướng tích trữ hàng hóa, vàng bạc hay các ngoại tệ mạnh.
Nếu lạm phát phi mã kéo dài sẽ gây suy thoái nghiêm trọng cho nền kinh tế. • Siêu lạm phát: lạm phát với mức 3 con số trở lên, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực tế của người lao động giảm mạnh, tiền tệ mất giá, kinh tế rối loạn và khủng hoảng.3 Đo lường lạm phát Lạm phát thường được đo lường bằng các chỉ số giá, các chỉ số giá thường gặp như: CPI (consumer price index): Chỉ số giá tiêu dùng – đây là chỉ số dùng để đo lường mức giá trung bình giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một người tiêu dùng mua. CPI 12 được tính bằng cách lấy sự thay đổi giá của từng mặt hàng trong rổ hàng hóa được xác định trước và tính trung bình dựa trên trọng lượng tương đối của chúng trong cả rổ. Giá đang được xem xét là giá bán lẻ của từng mặt hàng có sẵn để mua đối với từng công dân.
Các rổ hàng hóa khác nhau thuộc các lĩnh vực: lương thực, thực phẩm; nhà ở; quần áo, may mặc; giao thông; bưu chính viễn thông; giáo dục; y tế; văn hóa, giải trí; hàng hóa và dịch vụ khác. CPI là chỉ tiêu được dùng phổ biến nhất để đo lường lạm phát. Công thức tính CPI: Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ 𝑡 CPIt = 100 × Chi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở PPI (Producer price Index): Producer Price Index (PPI) là chỉ số giá sản xuất và đo lường sự thay đổi giá của hàng hóa dịch vụ được bán bởi các nhà sản xuất trong nước. Mức giá bán này là mức giá cơ bản, không bao gồm thuế.
Không giống với CPI, PPI đo lường mức giá chung của sản phẩm theo quan điểm của người bán thay vì theo quan điểm từ người mua. Dữ liệu PPI cho thấy sự thay đổi giá trung bình của giỏ hàng hóa được các nhà sản xuất mua theo hàng tháng. Chỉ số giá sản xuất mô tả mức độ thay đổi giá trung bình trong giỏ hàng hóa được nhà sản xuất mua và cho biết mức lạm phát trong khu vực sản xuất. Khi chỉ số PPI tăng cũng có nghĩa là lạm phát tăng.
GDP Deflator: Chỉ số giá giảm phát GDP chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở. Chỉ số này thường được ký hiệu DGDP 13 Công thức tính Chỉ số giảm phát GDP: 𝐺𝐷𝑃 𝑑𝑎𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎĩ𝑎 DGDP = 𝐺𝐷𝑃 𝑡ℎự𝑐 𝑡ế ECI (Employment cost index): Chỉ số chi phí nhân công. ECI là chỉ số dựa trên chỉ số thể hiện sự thay đổi tiền lương, tiền thưởng và lợi ích từ quý trước, được hiển thị trên cơ sở mỗi giờ.
là một trong những chỉ số kinh tế chính được Fed sử dụng để thiết lập chính sách tiền tệ. Một lợi ích khác của phương pháp luận được sử dụng trong ECI là những thay đổi về lương diễn ra như là kết quả của một sự thay đổi trong sự kết hợp nghề nghiệp của người lao động có thể được thu thập ở đây bằng cách sử dụng cách tiếp cận "giỏ hàng" tương tự như của CPI. Kết quả của ECI ít có khả năng bị ảnh hưởng bởi những người chuyển sang làm việc thấp hơn hoặc trả lương cao hơn. Tuy nhiên chỉ số này đã bị tụt hậu.2 Tỷ suất lạm phát và lạm phát cơ bản Tỷ lệ lạm phát (Inflation rate) là tốc độ tăng mặt bằng giá của nền kinh tế.
Tỷ lệ lạm phát có 2 cách tính: tính theo CPI và tính theo Chỉ số giảm phát GDP. 𝐶𝑃𝐼 𝑘ỳ ℎ𝑖ệ𝑛 𝑡ạ𝑖 Tỷ lệ lạm phát kỳ hiện tại = × 100 𝐶𝑃𝐼 𝑘ỳ 𝑡𝑟ướ𝑐 Hoặc: 𝐶ℎỉ 𝑠ố 𝑔𝑖ả𝑚 𝑝ℎá𝑡 𝑘ỳ ℎ𝑖ệ𝑛 𝑡ạ𝑖−𝐶ℎỉ 𝑠ố 𝑔𝑖ả𝑚 𝑝ℎá𝑡 𝑘ỳ 𝑡𝑟ướ𝑐 Tỷ lệ lạm phát kỳ hiện tại = × 100 𝐶ℎỉ 𝑠ố 𝑔𝑖ả𝑚 𝑝ℎá𝑡 𝑘ỳ 𝑡𝑟ướ𝑐 Lạm phát tính theo chỉ số CPI vẫn được sử dụng nhiều nhất. Tại Việt Nam, phương pháp tính CPI đã được áp dụng từ năm 1995 đến nay theo đúng hướng dẫn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Tuy nhiên khi tính lạm phát theoo chỉ số CPI sẽ có một số hạn chế do sự thay đổi giá cả thường xuyên của một số mặt hàng như: lương thực, thực phẩm, năng lượng.
Sự thay đổi này không thể hiện lạm phát mà chỉ là sự thay đổi tạm thời mang tính mùa vụ trong năm. Vì vậy để loại bỏ sự thay đổi 14 mang tính mùa vụ này, các chuyên gia đã loại bỏ các mặt hàng này khỏi giỏ hàng tính CPI, từ đó tính được CPI cơ bản và lạm phát cơ bản. Lạm phát cơ bản: Lạm phát cơ bản theo thước đo CPI loại trừ lương thực- thực phẩm; năng lượng và mặt hàng do NN quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục (CPIxFEAHE).3 Lãi suất và lạm phát Khái niệm về lãi suất, theo Karl Marx: “Lãi suất là hình thức bí ẩn của giá cả” hoặc “Lãi suất là loại giá cả phi lý của vốn vay”. Còn theo nhà Kinh tế học nổi tiếng người Mỹ Paul A.
Samuel Son thì “Lãi suất là cái giá mà con nợ phải trả cho chủ nợ để được sử dụng vốn tín dụng”. Có thể nói lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn trong một đơn vị thời gian. Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất thì có thể phân loại lãi suất thành: • Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay, áp dụng theo giá trị danh nghĩa của khoản vốn vay để xác định số lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay. • Lãi suất thực tế: là lãi suất tính ra giá hiện hành trên cơ sở điều chỉnh lại theo những thay đổi dự tính về mức giá do lạm phát.
Mỗi quan hệ giữa lãi suất và lạm phát có thể được khái quát bằng phương trình Fisher: i=r+p Trong đó: • i là lãi suất danh nghĩa. • r là lãi suất thực tế. 15 • p là lạm phát kỳ vọng Giữa lạm phát và lãi suất danh nghĩa có mối quan hệ theo tỉ lệ 1:1. Khi lạm phát tăng cao, để giữa lượng tiền không chảy khỏi các ngân hàng thì lãi suất thực cần được giữ cố định, vì thế ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ tăng lãi suất danh nghĩa.
Tuy nhiên lãi suất tăng cao cũng có tác động giảm cầu thị trường, giúp kiềm chế lạm phát nhưng sẽ giảm bớt các nguồn vốn đầu tư, khả năng vay của các doanh nghiệp và gây ra suy thoái kinh tế. Lãi suất là một công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều hành các chính sách tiền tệ.4 Cung tiền và lạm phát Cung tiền (Money supply) là thước đo lượng tiền tồn tại trong nền kinh tế bao gồm tất cả các loại hình tiền tệ được phát hành và các công cụ thanh khoản khác được đo lường trong một khoảng thời gian nhất định. Dựa vào tính thanh khoản, cung tiền có thể được phân loại gồm M0, M1, M2, M3 cụ thể: M0 (Tồn lượng tiền mặt): toàn bộ lượng tiền mặt được NHTW phát hành và được lưu thông trong lãnh thổ quốc gia. Không bao gồm lượng tiền mặt được gửi trong hệ thống ngân hàng.