Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Bùi Quốc Dũng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Kim Anh và TS. Lê Xuân Nghĩa, bảo vệ tại Học viện Ngân hàng vào năm 2024 thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã ngành: 9.01).

Trong nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng, chính sách tiền tệ (CSTT) do Ngân hàng Trung ương (NHTW) thực thi đóng vai trò điều tiết các điều kiện tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Cơ chế truyền dẫn CSTT là quá trình các quyết định điều hành lan tỏa qua các kênh truyền dẫn để tác động đến tổng cầu, sản lượng và giá cả. Tại Việt Nam, giai đoạn trước năm 2012 bộc lộ nhiều hạn chế khi lạm phát duy trì ở mức cao và kinh tế vĩ mô biến động phức tạp (điển hình giai đoạn 2004–2011). Mặc dù giai đoạn từ năm 2012 trở đi đã kiềm chế được lạm phát ở mức một con số, khung khổ điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn phụ thuộc đáng kể vào các biện pháp hành chính và chỉ tiêu khối lượng. Thể chế tài chính, tính độc lập của NHTW và hiệu lực truyền dẫn qua giá cả (lãi suất) chưa được tối ưu hóa. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng khung khổ điều hành CSTT dựa trên giá và hoàn thiện kênh truyền dẫn lãi suất là yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm: các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận lãi suất như một công cụ điều hành đơn lẻ hoặc đánh giá định tính, chưa tiếp cận lãi suất dưới góc độ một mục tiêu điều hành tác nghiệp trong tổng thể khung khổ nghiệp vụ; thiếu các lập luận thực nghiệm và cơ sở khoa học để chuyển đổi dứt khoát từ điều hành theo khối lượng sang điều hành theo lãi suất; đồng thời các nghiên cứu trước đây chủ yếu dùng mô hình OLS, VAR hoặc SVAR truyền thống, chưa ứng dụng mô hình Bayesian VAR (BVAR) để xử lý hạn chế mất bậc tự do và nâng cao độ chính xác khi đánh giá phản ứng chính sách tại Việt Nam.

Hệ thống mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá cơ chế truyền dẫn và hiệu lực cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu lực của cơ chế này.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất; tổng hợp kinh nghiệm điều hành lãi suất của NHTW Nhật Bản (BOJ), NHTW Thái Lan (BOT) và NHTW Philippines (BSP) nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
    2. Phân tích thực trạng cơ chế truyền dẫn CSTT và thực tiễn điều hành lãi suất của NHNN.
    3. Thực hiện nghiên cứu định lượng bằng mô hình BVAR để đánh giá hiệu lực truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất tại Việt Nam.
    4. Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu lực cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cơ chế điều hành CSTT qua kênh lãi suất dưới góc độ lý thuyết được luận giải như thế nào?
  2. Thực trạng điều hành lãi suất trong điều hành CSTT của NHNN diễn ra như thế nào? Cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất có phát huy được hiệu lực tại Việt Nam?
  3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần thực hiện các khuyến nghị chính sách nào để cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất phát huy được hiệu lực tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất.
  • Phạm vi không gian: Nền kinh tế và hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2002–2022. Trong phân tích định lượng, mẫu nghiên cứu được phân chia thành hai giai đoạn (trước và sau năm 2011) do năm 2011 đánh dấu bước chuyển trong định hướng điều hành của Chính phủ và NHNN từ ưu tiên tăng trưởng sang ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường sử dụng công cụ gián tiếp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu quốc tế về khung khổ chính sách tiền tệ và điều hành lãi suất

Jonas và Mishkin (2003) phân tích kinh nghiệm chuyển đổi sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu (LPMT) tại Cộng hòa Séc, Ba Lan và Hungary, chứng minh hiệu quả giảm dần lạm phát dù gặp các cú sốc kinh tế. NHTW châu Âu (2011) làm rõ khung khổ CSTT và việc vận hành các công cụ điều hành tại khu vực đồng Euro. Pétursson (2000) và Sherwin (2000) thảo luận điều kiện áp dụng LPMT tại các nền kinh tế nhỏ, mở cửa với tỷ giá linh hoạt. Freedman và Otker-Robe (2010) tổng kết bài học chuyển đổi sang khuôn khổ toàn phần. Ho (2008) khảo sát điều hành lãi suất tại 17 quốc gia phát triển và đang phát triển. Maehle (2014) chỉ rõ chỉ tiêu khối lượng đóng vai trò kiểm tra chéo nhưng NHTW cần có mục tiêu lạm phát rõ ràng. Bindseil (2016) tái khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng thị trường tiền tệ hiệu quả, thiết lập hành lang lãi suất và kiểm soát lãi suất ngắn hạn sau khủng hoảng tài chính 2008.

Nhóm nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất

Bernanke và Blinder (1992, 1998) phân tích cơ chế truyền dẫn lãi suất và kênh tín dụng thông qua bảng cân đối kế toán. Fuertes, Heffernan và Kalotychou (2010) chỉ ra mối liên kết giữa lãi suất cho vay thương mại và lãi suất chính sách tại Anh. Aleem (2010) và Mashat (2003) dùng mô hình VAR và VECM tại Ấn Độ, khẳng định vai trò tạm thời của cú sốc lãi suất qua đêm và tầm quan trọng của kênh lãi suất so với kênh tín dụng hành chính. Mohanty (2012) dùng mô hình SVAR tại Ấn Độ (1996–2011) chỉ ra chính sách tăng lãi suất làm giảm sản lượng với độ trễ 2 quý và giảm lạm phát với độ trễ 3 quý, kéo dài 8–10 quý. Vymyatnina (2006) tại Nga (1995–2004) nhận định quản lý lãi suất mang lại hiệu quả cao hơn kiểm soát tiền tệ. Ormaechea và Coble (2011) so sánh Chile, New Zealand, Peru, Uruguay để chứng minh vai trò kênh lãi suất gia tăng khi mức độ đô la hóa giảm. Morsink và Bayoumi (2001) cùng Miyao (2002) dùng mô hình VAR phân tích sự truyền dẫn qua hệ thống ngân hàng tại Nhật Bản giai đoạn 1975–1998. Moreira (2012), Partachi và Mija (2015) khẳng định sự lan tỏa từ lãi suất điều hành đến lãi suất thương mại và kỳ vọng giá cả.

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam

Tô Ánh Dương (2015) ghi nhận sự gia tăng tính nhạy cảm của nhà đầu tư với lãi suất giai đoạn 2011–2015. Duma và Hà Nga (2013) nhận định kênh lãi suất còn yếu nhưng lãi suất cho vay phản ứng ngày càng mạnh với lãi suất của NHNN, đề xuất thiết lập hành lang lãi suất liên ngân hàng. Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2013) dùng mô hình SVAR phát hiện câu đố về giá (price puzzle) và độ trễ phản ứng của lạm phát trước lãi suất. Đinh Thị Thu Hồng (2013) dùng mô hình GARCH bất đối xứng chỉ ra truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam diễn ra không hoàn toàn. Nguyễn Phúc Cảnh (2014) nhận thấy lãi suất ít tác động lên thị trường chứng khoán so với cung tiền. Chu Khánh Lân (2012) khẳng định kênh tín dụng khuếch đại nhanh và mạnh. Le và Pfau (2009) cùng Bhattacharya (2013) nhận định kênh lãi suất giai đoạn trước 2012 chưa phát huy hiệu lực rõ rệt lên lạm phát so với tỷ giá và tín dụng. Bui và Tran (2015) ghi nhận lãi suất và cầu tiền tác động đến sản lượng. Vo và Nguyen (2017) cho rằng CSTT thắt chặt giai đoạn 2003–2012 chưa kiềm chế lạm phát hiệu quả. Phạm Thị Bảo Anh (2017) dùng mô hình VAR (2004–2015) kết luận lãi suất tái chiết khấu có tác động định hướng thị trường trong khi lãi suất tái cấp vốn chưa thể hiện rõ vai trò này. Nguyễn Thị Kim Thanh (2018), Nhóm nghiên cứu BIDV (2018), Phạm Xuân Hòe và cộng sự (2018), Phạm Chí Quang và cộng sự (2019), Dương Thị Thanh Bình và cộng sự (2023) đã phân tích các khía cạnh chuyển dịch công cụ và khung khổ điều hành CSTT.

Nhóm tác giả Phương pháp / Mô hình Phạm vi thời gian Kết luận chính về kênh lãi suất tại Việt Nam
Le và Pfau (2009) VAR Q2/1996 - Q4/2005 Kênh lãi suất có vai trò mờ nhạt; kênh tỷ giá và tín dụng chiếm ưu thế.
Bhattacharya (2013) VAR Q1/2004 - Q2/2012 Lãi suất không có tác động đáng kể đến lạm phát trong ngắn và trung hạn.
Trần Ngọc Thơ và cs (2013) SVAR 2000 - 2012 Kênh lãi suất tạo ra phản ứng trễ với lạm phát; tồn tại hiện tượng price puzzle.
Đinh Thị Thu Hồng (2013) GARCH bất đối xứng T1/1997 - T12/2009 Truyền dẫn lãi suất diễn ra không hoàn toàn, có sự bất đối xứng trong tốc độ điều chỉnh.
Phạm Thị Bảo Anh (2017) VAR T1/2004 - T11/2015 Lãi suất tái chiết khấu tác động làm giảm lạm phát sau độ trễ 2 tháng và tắt sau 7 tháng.

Vị trí và đóng góp của luận án: Luận án tiếp cận điều hành lãi suất dưới góc độ một khung khổ nghiệp vụ hoàn chỉnh gắn với các công cụ của NHTW, thực hiện so sánh định lượng hai giai đoạn trước và sau năm 2011 bằng mô hình BVAR, từ đó cung cấp luận cứ khoa học để thiết lập hành lang lãi suất và chọn lãi suất chính sách tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết kinh tế học tiền tệ:

  • Lý thuyết về bản chất lãi suất: Quan điểm của C. Mác về lợi tức là một phần giá trị thặng dư; lý thuyết của J.M. Keynes về lãi suất là phần thưởng cho việc từ bỏ sở thích thanh khoản (chia lìa tiền tệ) và mô hình IS-LM; quan điểm của M. Friedman và trường phái trọng tiền coi cầu tiền là hàm ổn định của thu nhập.
  • Hệ thống mục tiêu CSTT: Phân cấp 3 tầng mục tiêu gồm Mục tiêu hoạt động (Operating targets - Lãi suất ngắn hạn, Cung tiền, Tỷ giá thị trường), Mục tiêu trung gian (Intermediate targets - Lạm phát, Cung tiền M2, Tỷ giá), và Mục tiêu cuối cùng (Objectives - Ổn định giá cả, Tăng trưởng kinh tế, Tạo việc làm, Ổn định tài chính) theo Ho (2008), Tô Kim Ngọc và Nguyễn Thanh Nhàn (2022).
  • Các kênh truyền dẫn CSTT:
    1. Kênh lãi suất: Sự thay đổi lãi suất chính sách tác động đến lãi suất liên ngân hàng, lãi suất thương mại, làm thay đổi chi phí vốn, tác động đến đầu tư, tiêu dùng, tổng cầu và lạm phát.
    2. Kênh tín dụng: Vận hành qua kênh cho vay của ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản của người vay (Bernanke và Blinder, 1998).
    3. Kênh tỷ giá hối đoái: Tác động qua lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP), ảnh hưởng đến giá hàng hóa xuất nhập khẩu và dòng vốn.
    4. Kênh giá các tài sản khác: Tác động đến giá cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và tỷ lệ Tobin's q.
  • Khung khổ hành lang lãi suất (Interest Rate Corridor - IRC): Gồm trần hành lang là lãi suất cho vay/cung cấp thanh khoản tự động (Standing Lending Facility - SLPF), sàn hành lang là lãi suất nhận tiền gửi/thu hồi thanh khoản tự động (Standing Deposit Facility - SLAF), và Lãi suất chính sách (Policy rate) nằm ở giữa để định hướng lãi suất thị trường liên ngân hàng ngắn hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, phân loại, tính toán và mô tả các chuỗi số liệu về lãi suất điều hành, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất huy động và cho vay, tỷ giá, cung tiền, lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
  2. Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết: Phân tích các tài liệu, lý thuyết tiền tệ và kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Thái Lan, Philippines) để xây dựng khung phân tích cho Việt Nam.
  3. Phương pháp định lượng Bayesian VAR (BVAR): Khắc phục nhược điểm mất bậc tự do của mô hình VAR truyền thống khi ước lượng nhiều biến số và độ trễ. Phương pháp gán hàm phân phối xác suất tiên nghiệm (Prior Probability Density Function) kết hợp với thông tin mẫu dữ liệu để ước lượng phân phối hậu nghiệm (Posterior information). Các công cụ phân tích chính gồm:
    • Phân tích tương quan giữa các biến số vĩ mô.
    • Hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions - IRF) để đánh giá chiều hướng, độ lớn và độ trễ tác động của cú sốc lãi suất.
    • Phân tích phân rã phương sai (Variance Decomposition) để xác định tỷ trọng đóng góp của cú sốc lãi suất đối với biến động của lạm phát và các biến vĩ mô.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm số liệu vĩ mô và tiền tệ giai đoạn 2002–2022 thu thập từ các nguồn chính thức: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Tổng cục Thống kê (GSO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF - International Financial Statistics), Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS). Các chuỗi số liệu được phân kỳ làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2002–2011) và Giai đoạn 2 (2012–2022).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về CSTT, cơ chế truyền dẫn và mô hình điều hành lãi suất:

  • Làm rõ các nhóm công cụ CSTT: nhóm công cụ truyền thống (Dự trữ bắt buộc, Tái cấp vốn, Nghiệp vụ thị trường mở OMOs); nhóm công cụ bổ trợ (Lãi suất, Hạn mức tín dụng, Can thiệp tỷ giá); và nhóm công cụ phi truyền thống (Định hướng chính sách - Forward Guidance, Cung cấp thanh khoản khẩn cấp, Mua tài sản quy mô lớn QE/Operation Twist, Chính sách lãi suất âm, Cơ chế khuyến khích cho vay).
  • Phân tích cơ chế truyền dẫn qua 4 kênh: lãi suất, tín dụng, tỷ giá và giá tài sản. Luận giải cách thức NHTW lựa chọn lãi suất chính sách (mục tiêu LSLNH hoặc lãi suất nghiệp vụ cung cấp/thu hồi thanh khoản) và vận hành mô hình hành lang lãi suất (IRC).
  • Phân tích 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến kênh lãi suất: (i) Thị trường quốc tế (cơ chế tỷ giá, dòng vốn, mức độ đô la hóa); (ii) Chất lượng bảng cân đối ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ dồi dào hoặc căng thẳng thanh khoản); (iii) Môi trường tài chính; (iv) Công nghệ tài chính.
  • Phân tích kinh nghiệm quốc tế: NHTW Nhật Bản (BOJ), NHTW Thái Lan (BOT), và NHTW Philippines (BSP). Điển hình tại BSP, từ năm 2016 đã áp dụng khung IRC với lãi suất trần là lãi suất cho vay qua đêm (OLF), lãi suất sàn là lãi suất tiền gửi qua đêm (ODF), biên độ hẹp +/- 50 điểm cơ bản xung quanh lãi suất mua lại nghịch đảo qua đêm (O/N RRP), kết hợp cơ chế đấu giá tiền gửi có kỳ hạn (TDF) để neo giữ lãi suất liên ngân hàng.
Thành phần khung IRC tại BSP Công cụ nghiệp vụ tương ứng Chức năng trong hành lang
Trần hành lang (Ceiling) Lãi suất cho vay qua đêm (OLF) Cung cấp thanh khoản tự động, giới hạn trên của lãi suất thị trường
Lãi suất chính sách (Policy Rate) Lãi suất mua lại nghịch đảo qua đêm (O/N RRP) Định hướng tín hiệu chính sách, đấu thầu hàng ngày theo lãi suất cố định
Công cụ hỗ trợ hút thanh khoản Đấu giá tiền gửi có kỳ hạn (TDF) Hấp thụ thanh khoản dư thừa, đưa lãi suất thị trường về gần RRP
Sàn hành lang (Floor) Lãi suất tiền gửi qua đêm (ODF) Thu hồi thanh khoản tự động, giới hạn dưới của lãi suất thị trường

Chương 2: Thực trạng chính sách tiền tệ và điều hành lãi suất tại Việt Nam

Chương 2 phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và thực trạng vận hành các công cụ CSTT của NHNN giai đoạn 2001–2022:

  • Khung khổ pháp lý và mục tiêu: NHNN vận hành theo Luật NHNN năm 2010 với hệ thống đa mục tiêu (kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế).
  • Thực trạng công cụ điều hành:
    • Dự trữ bắt buộc (DTBB) được điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ để tác động đến khả năng cung ứng tín dụng.
    • Tái cấp vốn và tái chiết khấu: Lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu biến động mạnh giai đoạn 2001–2011 (đỉnh điểm lãi suất tái cấp vốn lên tới 15% vào năm 2011), sau đó giảm dần và duy trì ổn định hơn giai đoạn 2012–2020.
    • Nghiệp vụ thị trường mở (OMOs): Phát hành tín phiếu và giao dịch mua bán giấy tờ có giá (GTCG) được sử dụng để điều tiết thanh khoản ngắn hạn (điển hình đợt phát hành tín phiếu từ 21/9/2023 đến 08/11/2023).
  • Diễn biến các tầng lãi suất:
    • Giai đoạn 2000–2011: Lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) biến động lớn, xảy ra hiện tượng chạy đua lãi suất huy động vượt trần, thị trường liên ngân hàng phân mảnh do rủi ro thanh khoản.
    • Giai đoạn 2012–2020: Mặt bằng lãi suất giảm dần và ổn định; NHNN áp dụng trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn (dưới 6 tháng) và trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên.
    • Giai đoạn Covid-19 (2020 – T6/2022): NHNN nhiều lần cắt giảm lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản và hạ lãi suất cho vay phục hồi kinh tế.
  • Đánh giá hạn chế: Hệ thống điều hành lãi suất của NHNN tồn tại nhiều mức lãi suất điều hành nhưng chưa xác định rõ một lãi suất chính sách đóng vai trò neo giữ chủ đạo; thị trường liên ngân hàng biến động mạnh; truyền dẫn từ lãi suất điều hành sang lãi suất thị trường 1 còn chịu can thiệp của các biện pháp hành chính (hạn mức tín dụng, trần lãi suất huy động).

Chương 3: Đánh giá cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam

Chương 3 trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình BVAR với chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô và tài chính của Việt Nam:

  • Mô hình BVAR thiết lập mối quan hệ tương tác giữa các biến: Lãi suất chính sách/điều hành, Lãi suất liên ngân hàng, Tăng trưởng tín dụng, Cung tiền M2, Tỷ giá hối đoái, Lạm phát (CPI) và Tăng trưởng sản lượng (GDP/IIP).
  • Kết quả kiểm định tương quan và hàm phản ứng (IRF):
    • Giai đoạn trước năm 2011: Cú sốc tăng lãi suất chính sách có tác động kiềm chế lạm phát nhưng mức độ yếu, tồn tại hiện tượng phản ứng trễ kéo dài và kém nhạy cảm do CSTT bị phân tán bởi mục tiêu tăng trưởng nóng và các can thiệp hành chính.
    • Giai đoạn từ năm 2011 đến 2022: Cú sốc tăng lãi suất điều hành làm giảm lạm phát rõ rệt và nhanh chóng hơn. Lãi suất liên ngân hàng phản ứng cùng chiều với lãi suất điều hành, kéo theo sự điều chỉnh của lãi suất cho vay và huy động tại các NHTM.
  • Phân tích phân rã phương sai (Variance Decomposition): Tỷ trọng giải thích của cú sốc lãi suất đối với sự biến động của lạm phát trong giai đoạn 2 tăng lên đáng kể so với giai đoạn 1. Điều này chứng minh việc NHNN từng bước chuyển dịch từ điều hành theo khối lượng sang điều hành theo giá sau năm 2011 đã nâng cao hiệu lực của kênh truyền dẫn lãi suất.

Chương 4: Khuyến nghị chính sách

Dựa trên định hướng điều hành CSTT của NHNN đến năm 2025, tầm nhìn 2030, chương 4 đề xuất các giải pháp:

  • Về khung khổ điều hành lãi suất và hành lang lãi suất:
    • Đề xuất lựa chọn lãi suất chào mua GTCG kỳ hạn 7 ngày trên OMOs làm lãi suất chính sách (Policy rate) duy nhất để phát tín hiệu điều hành.
    • Thiết lập hành lang lãi suất chuẩn (IRC) với: Trần hành lang là lãi suất áp dụng đối với cơ chế tự động cung cấp thanh khoản (SLPF - cho vay qua đêm/tái cấp vốn); Sàn hành lang là lãi suất áp dụng đối với cơ chế thu hồi thanh khoản (SLAF - nhận tiền gửi qua đêm của TCTD).
    • Thu hẹp dần và tiến tới dỡ bỏ các biện pháp can thiệp hành chính trực tiếp như trần lãi suất tiền gửi và hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng).
  • Về nâng cao năng lực điều hành của NHNN:
    • Đề xuất thành lập Hội đồng Chính sách tiền tệ (Monetary Policy Board - MPB) chuyên trách tại NHNN nhằm tăng cường tính độc lập, chuyên nghiệp và minh bạch trong việc ra quyết định lãi suất.
    • Hoàn thiện hệ thống dự báo thanh khoản và mô hình kinh tế lượng phục vụ điều hành.
  • Khuyến nghị đối với Chính phủ và các Bộ, ngành: Phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và chính sách tài khóa; phát triển thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường vốn để tạo đường cong lãi suất chuẩn; tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Về mặt học thuật và phương pháp: Luận án phát triển mô hình BVAR ứng dụng vào điều kiện thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2002–2022. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm so sánh định lượng hai giai đoạn (trước và sau năm 2011), chứng minh rằng việc giảm dần điều hành theo khối lượng và tăng cường điều hành theo lãi suất từ sau năm 2011 đã nâng cao hiệu lực kiểm soát lạm phát của kênh lãi suất.
  2. Về cơ sở thực tiễn: Luận án hệ thống hóa toàn diện các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến cơ chế truyền dẫn CSTT tại Việt Nam; phân tích sự tương tác giữa các tầng lãi suất (lãi suất điều hành, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất ngân hàng thương mại).
  3. Về mặt chính sách và giải pháp:
    • Đề xuất mô hình khung khổ điều hành lãi suất cụ thể: lựa chọn lãi suất chào mua GTCG kỳ hạn 7 ngày trên OMOs làm lãi suất chính sách.
    • Xây dựng cơ chế hành lang lãi suất (IRC) với trần là lãi suất cho vay tự động (SLPF) và sàn là lãi suất tiền gửi tự động (SLAF).
    • Đề xuất cơ chế thành lập Hội đồng Chính sách tiền tệ (MPB) tại NHNN nhằm nâng cao năng lực và tính độc lập trong việc hoạch định và thực thi CSTT.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

Nhóm giải pháp Nội dung cụ thể Cơ quan thực hiện
Thiết lập lãi suất chính sách Chọn lãi suất chào mua GTCG kỳ hạn 7 ngày trên OMOs làm lãi suất chính sách duy nhất Ngân hàng Nhà nước
Xây dựng hành lang lãi suất (IRC) Thiết lập trần SLPF (cho vay qua đêm) và sàn SLAF (tiền gửi qua đêm); điều tiết LSLNH dao động trong hành lang Ngân hàng Nhà nước
Đổi mới tổ chức điều hành Thành lập Hội đồng Chính sách tiền tệ (MPB) có thẩm quyền quyết định lãi suất định kỳ Chính phủ, NHNN
Giảm can thiệp hành chính Lộ trình dỡ bỏ trần lãi suất huy động và hạn mức tín dụng từng ngân hàng, chuyển sang điều tiết bằng giá Ngân hàng Nhà nước
Phối hợp vĩ mô và phát triển thị trường Phối hợp CSTT - CSTK; phát triển thị trường trái phiếu tạo đường cong lãi suất chuẩn NHNN, Bộ Tài chính

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích chuỗi dữ liệu giai đoạn 2002–2022 ở cấp độ vĩ mô toàn hệ thống; chưa đi sâu phân tích dữ liệu vi mô (micro-data) từng ngân hàng thương mại do giới hạn tiếp cận số liệu chi tiết về chi phí vốn và cơ cấu bảng cân đối kế toán từng tổ chức tín dụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá cơ chế truyền dẫn lãi suất khi hệ thống tài chính phát triển các sản phẩm phái sinh lãi suất mới; ứng dụng mô hình BVAR vi mô (Panel BVAR) để đánh giá phản ứng dị biệt giữa các nhóm ngân hàng (ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân) đối với sự thay đổi của lãi suất chính sách.

Giá trị tham khảo

  • Đối với Ngân hàng Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và thiết kế kỹ thuật cho việc chuyển đổi khung khổ CSTT từ điều hành theo khối lượng sang điều hành theo giá; cung cấp mô hình hành lang lãi suất chuẩn và tiêu chí chọn lãi suất chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
  • Đối với các tổ chức tín dụng và chuyên gia tài chính: Cung cấp bức tranh phân tích về quy luật vận động của các tầng lãi suất, giúp nâng cao năng lực quản trị rủi ro lãi suất và thanh khoản trên thị trường tiền tệ.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu về lý thuyết truyền dẫn tiền tệ, phương pháp ước lượng mô hình Bayesian VAR trong phân tích kinh tế vĩ mô và kinh nghiệm điều hành lãi suất quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đề xuất lựa chọn mức lãi suất nào làm lãi suất chính sách cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?

Luận án đề xuất lựa chọn lãi suất chào mua giấy tờ có giá kỳ hạn 7 ngày trên nghiệp vụ thị trường mở (OMOs) làm lãi suất chính sách duy nhất của NHNN. Lãi suất này sẽ phát đi thông điệp rõ ràng về định hướng CSTT (thắt chặt, nới lỏng hay trung lập) và đóng vai trò neo giữ cho lãi suất thị trường liên ngân hàng.

2. Cấu trúc hành lang lãi suất (IRC) được luận án thiết kế như thế nào?

Hành lang lãi suất được thiết kế gồm ba thành phần:

  • Trần hành lang: Lãi suất áp dụng đối với cơ chế tự động cung cấp thanh khoản (SLPF - cho vay qua đêm/tái cấp vốn).
  • Sàn hành lang: Lãi suất áp dụng đối với cơ chế tự động thu hồi thanh khoản (SLAF - nhận tiền gửi qua đêm của các TCTD tại NHNN).
  • Lãi suất chính sách: Lãi suất OMOs kỳ hạn 7 ngày nằm ở giữa hành lang, hướng lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn dao động quanh mức mục tiêu này.

3. Mô hình Bayesian VAR (BVAR) trong luận án chỉ ra sự khác biệt gì giữa hai giai đoạn trước và sau năm 2011?

Kết quả BVAR cho thấy trong giai đoạn trước năm 2011, lãi suất chính sách tác động yếu và có độ trễ lớn lên lạm phát do CSTT bị chi phối bởi mục tiêu tăng trưởng và các biện pháp hành chính. Ngược lại, trong giai đoạn 2011–2022, khi NHNN chuyển dịch sang ưu tiên kiểm soát lạm phát và tăng cường công cụ gián tiếp, cú sốc lãi suất điều hành có tác động kiềm chế lạm phát nhanh và mạnh hơn, tỷ trọng giải thích phương sai của lãi suất đối với lạm phát tăng lên rõ rệt.

4. Luận án rút ra bài học gì từ mô hình hành lang lãi suất của Ngân hàng Trung ương Philippines (BSP)?

BSP triển khai khung IRC từ năm 2016 với lãi suất cho vay qua đêm (OLF) làm trần, lãi suất tiền gửi qua đêm (ODF) làm sàn, biên độ hẹp +/- 50 điểm cơ bản xung quanh lãi suất mua lại nghịch đảo qua đêm (O/N RRP), kết hợp cơ chế đấu giá tiền gửi có kỳ hạn (TDF). Bài học rút ra là việc duy trì hành lang hẹp cùng các công cụ hút/bơm thanh khoản định kỳ giúp lãi suất liên ngân hàng bám sát lãi suất chính sách, nâng cao hiệu lực truyền dẫn.

5. Đề xuất nào về mặt tổ chức bộ máy được luận án nhấn mạnh nhằm nâng cao năng lực điều hành CSTT?

Luận án đề xuất cơ chế thành lập Hội đồng Chính sách tiền tệ (MPB) chuyên trách tại NHNN nhằm tăng cường tính độc lập, minh bạch và chuyên nghiệp trong việc quyết định các mức lãi suất điều hành định kỳ dựa trên dữ liệu phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô.


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam" của NCS Bùi Quốc Dũng là công trình nghiên cứu toàn diện từ cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế đến phân tích thực nghiệm giai đoạn 2002–2022. Bằng việc ứng dụng mô hình Bayesian VAR, luận án khẳng định vai trò ngày càng tăng của kênh lãi suất trong việc kiểm soát lạm phát tại Việt Nam từ sau năm 2011. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất khung khổ điều hành lãi suất mới với lãi suất chính sách OMO 7 ngày, thiết lập hành lang lãi suất SLPF/SLAF và thành lập Hội đồng Chính sách tiền tệ, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách tiền tệ tại Việt Nam.